Bài 4: Đầu tư công 2026: Giải ngân trọng tâm, trọng điểm để tạo "lực" tăng trưởng

Phóng viên: Thưa ông, giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2025 đến 31/12/2025 đạt 83,7% kế hoạch Thủ tướng giao. Ông đánh giá như thế nào về nỗ lực điều hành, giải ngân thời gian qua?

Bài 4: Đầu tư công 2026: Giải ngân trọng tâm, trọng điểm để tạo
TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn - Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright. Ảnh: internet

Chuyển biến tích cực trong kỷ luật và hiệu quả giải ngân

TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn: Tôi cho rằng kết quả giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 cần được nhìn nhận trong một bối cảnh vĩ mô đặc biệt nhiều sức ép, qua đó càng thấy rõ sự nỗ lực của Chính phủ thời gian qua. Trong bối cảnh đầu tư tư nhân vẫn còn thận trọng, xuất khẩu đối mặt nhiều bất định do biến động thuế quan và thương mại toàn cầu, chính sách tiền tệ phải đồng thời theo đuổi nhiều mục tiêu thì đầu tư công tiếp tục là trụ cột quan trọng để giữ nhịp tăng trưởng của nền kinh tế trong năm 2025 cũng như tạo dư địa cho những năm tiếp theo.

Trong bối cảnh đó, kết quả giải ngân vốn đầu tư công đến hết ngày 31/12/2025 đạt trên 755 nghìn tỷ đồng, tương đương 83,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn 3,4% và tăng hơn 206,6 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2024, là một tín hiệu tích cực và có ý nghĩa. Kết quả này không chỉ cho thấy quyết tâm và nỗ lực điều hành rất lớn của Chính phủ mà còn khẳng định vai trò của đầu tư công như động lực dẫn dắt quan trọng, góp phần bù đắp sự suy yếu tương đối của các động lực tăng trưởng khác trong năm 2025.

Quan trọng hơn, hiệu quả của đầu tư công năm 2025 không chỉ thể hiện ở tỷ lệ giải ngân mà còn ở các kết quả đầu ra cụ thể. Đến hết năm, theo báo cáo của Bộ Tài chính, cả nước đã hoàn thành 3.345 km đường bộ cao tốc và 1.701 km đường bộ ven biển, vượt các mục tiêu đề ra. Đây là những công trình hạ tầng then chốt, có tác động lan tỏa lớn, góp phần cải thiện kết nối vùng, giảm chi phí đi lại và nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế, thay vì chỉ tạo hiệu ứng kích cầu ngắn hạn.

Nếu loại trừ phần kế hoạch vốn được Thủ tướng giao bổ sung sau ngày 30/9/2025, bao gồm gần 27.430 tỷ đồng để triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, thì tỷ lệ giải ngân thực chất còn cao hơn con số 83,7%. Điều này cho thấy, đối với phần vốn đã được giao và chuẩn bị từ sớm, năng lực tổ chức thực hiện và hấp thụ vốn của nền kinh tế trong năm 2025 đã có bước cải thiện đáng kể, cho thấy sự chuyển biến tích cực trong kỷ luật và hiệu quả triển khai đầu tư công.

Cá nhân tôi đánh giá cao sự điều hành nhất quán và quyết liệt của Chính phủ trong suốt năm 2025, đặc biệt là vai trò điều phối trung tâm trong việc tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, thủ tục và đặc biệt là khâu tổ chức thực hiện. Chính phủ đã thường xuyên rà soát tiến độ, kiểm điểm trách nhiệm và điều chuyển vốn từ nơi chậm sang nơi có khả năng giải ngân tốt hơn, qua đó tạo áp lực thực thi thực chất. Đồng thời, sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành trung ương trong phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm người đứng đầu, cùng với sự chủ động hơn của nhiều địa phương trong chuẩn bị đầu tư và giải phóng mặt bằng… đã góp phần đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án.

Tuy vậy, cũng cần nhìn nhận thẳng thắn rằng mức giải ngân 83,7% cho thấy những điểm nghẽn mang tính cơ cấu của đầu tư công vẫn chưa được xử lý triệt để, đặc biệt ở khâu chuẩn bị dự án và năng lực quản lý thực hiện tại một số bộ ngành và địa phương. Vì vậy, trong giai đoạn tới cần phải cải thiện hơn nữa những khâu yếu kém hiện nay, đảm bảo hiệu quả tổng thể theo toàn bộ vòng đời dự án.

Phóng viên: Chỉ còn gần 2 tuần nữa để giải ngân kế hoạch vốn năm 2025 theo mục tiêu. Theo ông cần giải pháp mạnh mẽ nào để bứt phá về đích?

TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn: Điều quan trọng nhất lúc này là tiếp tục phát huy tinh thần chỉ đạo tập trung, quyết liệt và linh hoạt đã phát huy hiệu quả trong thời gian vừa qua. Thực tế cho thấy, tỷ lệ giải ngân tăng nhanh vào giai đoạn cuối năm khẳng định rằng khi có quyết tâm chính trị cao và cơ chế điều hành đủ mạnh, hệ thống hoàn toàn có khả năng tăng tốc và tạo ra kết quả rõ rệt trong thời gian ngắn. Điều này cũng cho thấy dư địa cải thiện hiệu quả giải ngân vẫn còn lớn, đặc biệt nếu các vướng mắc về thủ tục, giải phóng mặt bằng và phối hợp liên ngành được xử lý sớm và đồng bộ hơn.

Trong giai đoạn nước rút, tôi nghĩ giải pháp quan trọng nhất là rà soát sát tiến độ từng dự án cụ thể. Những công trình đã có khối lượng thực hiện lớn, khả năng hoàn thành và giải ngân ngay cần được ưu tiên tối đa về nguồn lực, nhân sự và thủ tục. Ngược lại, với các dự án chắc chắn không thể giải ngân kịp thì cần mạnh dạn điều chỉnh hoặc điều chuyển vốn sang những dự án có khả năng hấp thụ tốt hơn. Cách làm này vừa giúp nâng cao tỷ lệ giải ngân, vừa thể hiện rõ kỷ luật và hiệu quả trong quản lý vốn đầu tư công.

Song song với đó, cần đẩy nhanh xử lý các thủ tục còn tồn đọng ở khâu cuối, đặc biệt là nghiệm thu, thanh toán và quyết toán khối lượng hoàn thành. Trong khuôn khổ pháp luật cho phép, các bộ, ngành và địa phương cần áp dụng cách làm linh hoạt hơn, triển khai song song các bước thay vì tuần tự, nhằm tránh tình trạng vốn có sẵn nhưng không giải ngân được. Vai trò điều phối của Chính phủ, nhất là thông qua các cuộc họp giao ban ngắn, tập trung vào các dự án trọng điểm và địa phương giải ngân chậm vẫn hết sức quan trọng để tạo áp lực hành động rõ ràng trong những ngày cuối cùng của năm.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách tỉnh táo rằng xu hướng giải ngân dồn mạnh vào cuối năm, dù giúp cải thiện con số song chưa phải là trạng thái tối ưu. Nhiều nghiên cứu cho thấy, bên cạnh quy mô vốn, thời điểm và nhịp độ giải ngân có ý nghĩa rất lớn đối với tăng trưởng. Giải ngân kịp thời ngay từ đầu năm giúp dòng vốn sớm đi vào nền kinh tế, hỗ trợ tổng cầu, tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và rút ngắn thời gian hoàn thành các dự án hạ tầng then chốt. Vì vậy, nếu giải ngân chủ yếu dồn vào cuối năm, tác động lan tỏa của đầu tư công tới tăng trưởng trong cả năm tài khóa sẽ bị hạn chế.

Do đó, kết quả giải ngân đầu tư công năm 2025 cần được nhìn nhận theo hai mặt. Một mặt, đây là minh chứng cho nỗ lực điều hành quyết liệt của Chính phủ và sự vào cuộc mạnh mẽ hơn của các bộ, ngành, địa phương trong giai đoạn cuối năm. Mặt khác, việc vẫn phải trông chờ vào cú nước rút cho thấy yêu cầu cấp thiết phải cải cách sâu hơn khâu chuẩn bị đầu tư, phân bổ vốn sớm và tổ chức thực hiện chủ động ngay từ đầu năm.

Bài 4: Đầu tư công 2026: Giải ngân trọng tâm, trọng điểm để tạo
Đầu tư công tiếp tục là trụ cột quan trọng để giữ nhịp tăng trưởng của nền kinh tế. Ảnh: internet

Hạn chế tình trạng "găm vốn" nhưng không sử dụng

Phóng viên: Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng sáng nay, Tổng Bí thư Tô Lâm đề cập đến yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Từ thực tiễn năm 2025 và tinh thần chỉ đạo đó, theo ông, giải ngân vốn đầu tư công cần được triển khai như thế nào trong năm 2026 để thúc đẩy tăng trưởng 2 con số?

TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn: Tôi cho rằng tinh thần chỉ đạo nêu trên của Tổng Bí thư Tô Lâm cũng như các văn kiện Đại hội XIV của Đảng rất trúng và cũng phản ánh đúng những vấn đề cốt lõi đặt ra từ thực tiễn, trong đó liên quan đến giải ngân đầu tư công những năm qua.

Có thể thấy rằng, mục tiêu của năm 2026 là tạo nền tảng cho tăng trưởng 2 con số thì đầu tư công không chỉ cần được giải ngân nhanh hơn mà quan trọng hơn là phải đúng dự án và tạo được hiệu ứng lan tỏa thực chất đối với nền kinh tế, đúng với yêu cầu đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải và lãng phí nguồn lực.

Kinh nghiệm năm 2025 cho thấy những khó khăn trong giải ngân không xuất phát từ việc thiếu vốn, mà chủ yếu đến từ khâu chuẩn bị dự án chưa kỹ, năng lực tổ chức thực hiện còn hạn chế và sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các chủ thể liên quan. Vì vậy, năm 2026 cần coi việc nâng cao chất lượng chuẩn bị đầu tư ngay từ đầu năm là điều kiện tiên quyết. Chỉ bố trí kế hoạch vốn lớn cho những dự án đã hoàn tất đầy đủ thủ tục và có khả năng giải ngân thực tế trong năm. Cách làm này sẽ hạn chế tình trạng "găm vốn" nhưng không sử dụng, là nguyên nhân gây ách tắc dây chuyền cho toàn bộ hệ thống đầu tư công.

Thứ hai, điều hành kế hoạch vốn trong năm cần linh hoạt và chủ động hơn. Việc cho phép điều chỉnh, điều chuyển vốn kịp thời giữa các dự án và địa phương có khả năng thực hiện tốt sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và cải thiện tiến độ chung. Tuy nhiên, cơ chế này cần được thiết kế minh bạch, dựa trên tiến độ và kết quả thực tế, với tiêu chí rõ ràng, nhằm tránh tình trạng điều chỉnh mang tính xin - cho hoặc can thiệp hành chính tùy tiện.

Thứ ba, cần nâng cao trách nhiệm và năng lực của chủ đầu tư và ban quản lý dự án, coi đây là "điểm tựa" then chốt của giải ngân. Nhiều vướng mắc trong thực tế không phải do quy định pháp luật mà do năng lực tổ chức thực hiện, do sự thiếu chủ động phối hợp giữa các cơ quan liên quan và khả năng xử lý tình huống tại chỗ. Vì vậy, năm 2026 cần đẩy mạnh phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình, đồng thời sàng lọc và chuyên nghiệp hóa đội ngũ quản lý dự án, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp và có tác động lan tỏa cao.

Thứ tư, cần tháo gỡ có trọng tâm các nút thắt mang tính kinh niên như đất đai, giải phóng mặt bằng và vật liệu xây dựng. Có thể tiếp cận theo hướng vùng và theo chuỗi, từ quy hoạch mỏ vật liệu, cơ chế xác định giá bồi thường cho đến sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Cách làm này giúp giảm rủi ro chậm tiến độ ngay từ đầu, thay vì chỉ xử lý khi dự án đã bị ách tắc.

Thứ năm, nhịp độ giải ngân cần được phân bổ đều hơn trong năm, hạn chế tình trạng dồn mạnh vào cuối năm. Giải ngân sớm và đều không chỉ giúp dòng vốn nhanh chóng đi vào nền kinh tế, hỗ trợ tổng cầu, tạo việc làm và thúc đẩy sản xuất kinh doanh mà còn góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Cuối cùng cần nói thêm rằng, chúng ta cũng không nên quá tập trung vào con số tỷ lệ giải ngân mà cần đánh giá tính hiệu quả và tác động của dự án. Kết quả giải ngân phải gắn với các mục tiêu đầu ra cụ thể, chẳng hạn như cải thiện hạ tầng chiến lược, giảm chi phí giao dịch, nâng cao năng lực sản xuất hay thu hút đầu tư tư nhân… Có như vậy thì đầu tư công mới thực sự trở thành công cụ thúc đẩy tăng trưởng năng suất chứ không chỉ là biện pháp bổ sung tổng cầu ngắn hạn.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Tác giả: Trần Huyền (thực hiện)