Tin mới
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phát triển ngân hàng xanh ở Việt Nam hiện nay

Phát triển ngân hàng xanh không chỉ là mục tiêu, mà đang dần trở thành xu hướng tất yếu; không chỉ mang tính khuyến khích mà dần trở thành yêu cầu của thực tiễn. Thời gian qua, toàn hệ thống ngân hàng đã nỗ lực và chủ động vào cuộc hướng tới phát triển ngân hàng xanh bền vững.

TS.Nguyễn Thành Trung

Học viện Ngân hàng

Email: [email protected]

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phát triển ngân hàng xanh không chỉ là mục tiêu, mà đang dần trở thành xu hướng tất yếu; không chỉ mang tính khuyến khích mà dần trở thành yêu cầu của thực tiễn. Thời gian qua, toàn hệ thống ngân hàng đã nỗ lực và chủ động vào cuộc hướng tới phát triển ngân hàng xanh bền vững. Tuy nhiên, việc triển khai ngân hàng xanh tại Việt Nam vẫn còn gặp nhiều thách thức như khung pháp lý chưa đồng bộ, thiếu công cụ đánh giá rủi ro môi trường trong thẩm định tín dụng và nhận thức xã hội về tài chính xanh còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu thực trạng phát triển của ngân hàng xanh như một động lực tài chính thúc đẩy phát triển bền vững trở nên cần thiết, giúp làm rõ đóng góp của lĩnh vực này đối với quá trình chuyển đổi kinh tế xanh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng xanh ở Việt Nam.

CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG XANH

Ngân hàng xanh ra đời như một mô hình tài chính mới, hướng tới việc tích hợp các tiêu chí môi trường, xã hội và quản trị (ESG) vào hoạt động ngân hàng truyền thống. Thông qua tín dụng xanh, ngân hàng góp phần điều tiết dòng vốn vào các dự án năng lượng tái tạo, nông nghiệp sạch, xây dựng xanh và giao thông bền vững, qua đó giảm thiểu tác động tiêu cực của tăng trưởng kinh tế lên môi trường tự nhiên.

Bám sát định hướng của Chính phủ về tăng trưởng xanh hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành nhiều văn bản tạo hành lang pháp lý liên quan đến hoạt động phát triển ngân hàng xanh. Điển hình là: Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam (theo Quyết định số 1604/QĐ-NHNN, ngày 07/8/2017 của Ngân hàng Nhà nước và Quyết định số 1663/QĐ- NHNN ngày 06/8/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/8/2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam), đã lồng ghép nội dung về định hướng phát triển tín dụng xanh - ngân hàng xanh vào nội dung của Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ). Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam đã đặt mục tiêu phấn đấu cụ thể đến năm 2025: (1) Từng bước nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn xanh của các tổ chức tín dụng (TCTD), tăng dần tỉ trọng vốn tín dụng cho các dự án thuộc danh mục phân loại xanh quốc gia; (2) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ đi cùng với xây dựng thói quen thân thiện với môi trường cho khách hàng trong khuôn khổ hoạt động ngân hàng, phát triển mạnh các kênh giao dịch điện tử, các dịch vụ, phương thức thanh toán mới trên nền tảng công nghệ hiện đại; (3) Ngày càng có nhiều TCTD thực hiện quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, dần tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế.

Tiếp tục ban hành kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 (theo Quyết định số 1408/QĐ-NHNN ngày 26/7/2023 của Thống đốc NHNN). Kế hoạch đã đặt ra 7 nhiệm vụ, giải pháp thực hiện đến năm 2030 có tính bao trùm: (1) Hoàn thiện cơ chế, chính sách tín dụng phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh; (2) Hợp tác quốc tế nhằm đẩy mạnh huy động nguồn lực cho tăng trưởng xanh; (3) Đẩy mạnh chuyển đổi số; (4) Công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực đối với yêu cầu chuyển đổi xanh; (5) Công tác thông tin, truyền thông về hoạt động của ngành Ngân hàng góp phần thực hiện tăng trưởng xanh; (6) Nghiên cứu, thành lập diễn đàn chung về tài chính xanh của ngành Ngân hàng; (7) Đẩy mạnh thực hiện mua sắm xanh trong hoạt động mua sắm công.

Bổ sung quy định nhiệm vụ, giải pháp về tín dụng xanh, ngân hàng xanh nhằm thúc đẩy vốn tín dụng ngân hàng vào các ngành sản xuất và tiêu dùng ít carbon tại Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025 (Quyết định số 689/QĐ-TTg ngày 08/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ), trong đó nhiệm vụ đặt ra yêu cầu nghiên cứu, ban hành các chính sách ưu đãi, cơ chế hỗ trợ, khuyến khích các TCTD thúc đẩy tín dụng xanh, ngân hàng xanh, những ngành sản xuất và tiêu dùng ít carbon; phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trên cơ sở tận dụng các thành tựu khoa học, công nghệ 4.0 để xanh hóa hoạt động ngân hàng.

Thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; theo đó, hướng dẫn và yêu cầu TCTD phải xây dựng quy định nội bộ để quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng độc lập hoặc lồng ghép trong quy định nội bộ về cấp tín dụng và quy định nội bộ về kiểm soát nội bộ của TCTD, phù hợp với các quy định của pháp luật về hoạt động cấp tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng. Đồng thời, NHNN đã ban hành Sổ tay hướng dẫn đánh giá các rủi ro môi trường và xã hội đối với 15 ngành kinh tế có rủi ro cao. Cùng với đó, nhiều loại sổ tay được ban hành, như Sổ tay quản lý rủi ro tín dụng xanh (5/2025), Sổ tay hướng dẫn đánh giá rủi ro môi trường - xã hội (5/2025). Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã công bố “Danh mục phân loại xanh” (theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg, ngày 04/7/2025), tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của ngân hàng xanh.

Nhìn chung, các cơ chế chính sách về tiền tệ tín dụng của NHNN đã tiếp tục tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh, bằng các chương trình hành động cụ thể và lồng ghép trong chiến lược phát triển ngành ngân hàng. Trong đó, một số chương trình tín dụng cụ thể đã và đang phát huy hiệu quả, như: cho vay đổi mới và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; cho vay sản xuất nông nghiệp xanh, sạch; cho vay sản xuất theo chuỗi và tín dụng xây dựng nông thôn mới, với nội hàm sản xuất sản phẩm truyền thống, sản phẩm xanh, sạch tiêu chuẩn OCOP...; chương trình tín dụng cho vay 5 nhóm ngành lĩnh vực ưu tiên, trong đó cho vay công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, với lãi suất cho vay ngắn hạn bằng tiền đồng không quá 4%/năm; chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long (theo Quyết định số 1490/QĐ- TTg, ngày 27/11/2023)… Hiệu quả các chương trình tín dụng này vừa hỗ trợ doanh nghiệp về mặt chi phí vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng trưởng phát triển vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ và phát triển sản xuất theo hướng xanh, sạch và bảo vệ môi trường. Đặc biệt, những chương trình tín dụng xanh trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, giảm phát thải, nâng cao thu nhập và bảo vệ môi trường cho doanh nghiệp và hộ gia đình và người dân. Ngoài ra, hỗ trợ và tạo điều kiện cho doanh nghiệp đẩy mạnh chuyển đổi xanh thông qua hoạt động tín dụng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ hiện đại, triển khai thực hiện các dự án xanh và bảo vệ môi trường; sản xuất sản phẩm xanh, sạch.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG XANH Ở VIỆT NAM

Kết quả đạt được

Theo Ngân hàng Nhà nước, quy mô tín dụng xanh tăng trưởng nhanh. Đến cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay đối với lĩnh vực xanh đạt gần 780 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,19% tổng dư nợ tín dụng. Mặc dù chiếm tỷ trọng chưa cao trong tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế, song tín dụng xanh duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực và có mức tăng trưởng tốt: Năm sau cao hơn năm trước (năm 2024 tăng 9,5%; năm 2025 tăng 14,62%) (Hàn Đông, 2026). Quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh đang gia tăng mạnh. Nếu năm 2017 chỉ có 15 tổ chức tín dụng tham gia cho vay xanh, thì hiện nay con số này đã tăng lên 78. Dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng bình quân khoảng 22%-23% mỗi năm, tập trung vào các lĩnh vực như nông nghiệp xanh (khoảng 33%), năng lượng tái tạo (22%), công trình xanh và giao thông vận tải xanh (Anh Minh, 2026). Riêng lĩnh vực năng lượng tái tạo có sự tăng trưởng tín dụng vượt bậc, nếu như năm 2017, dư nợ cho vay ngành năng lượng tái tạo chỉ vào khoảng 9.500 tỷ đồng, thì đến tháng 6/2025 là gần 290 nghìn tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng tín dụng cho năng lượng tái tạo đạt khoảng 150%/năm, gấp nhiều lần tốc độ tăng trưởng chung của tín dụng xanh (Trần Trọng Triết, 2026). Dư nợ cho vay năng lượng tái tạo chiếm 39% tổng dư nợ cho vay tín dụng xanh, minh chứng hệ thống ngân hàng đã tập trung vốn cho vay chuyển đổi năng lượng xanh.

Ngành Ngân hàng không áp dụng hạn mức riêng cho tín dụng xanh, mà xác định đây là động lực tăng trưởng mới. Các tổ chức tín dụng chủ yếu sử dụng nguồn lực của mình để giảm lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi. Cụ thể, Ngân hàng Agribank đã giải ngân 28.800 tỷ đồng cho các dự án, hoạt động xanh, tính tới tháng 6/2025. Trong đó, năng lượng tái tạo chiếm 52,5%, nông nghiệp xanh chiếm 22,7%, lâm nghiệp bền vững chiếm 24%. Trong khi đó, Ngân hàng VietinBank cũng đã giải ngân khoảng 53.000 tỷ đồng cho các dự án, hoạt động xanh. Ngoài ra, còn xây dựng nhiều chương trình tín dụng ưu đãi, như: gói ưu đãi tài trợ 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; gói Green Up, với quy mô 5 nghìn tỷ đồng cho các phương án, dự án mang lại lợi ích về môi trường và xã hội (Trần Trọng Triết, 2026).

Để triển khai tín dụng xanh, nhiều ngân hàng lớn đã phát hành thành công trái phiếu xanh/trái phiếu bền vững với quy mô lớn, chẳng hạn như: Techcombank ban hành khung Trái phiếu xanh (tháng 12/2024). HDBank phát hành 3.000 tỷ đồng trái phiếu xanh trong nước và các lô trái phiếu xanh quốc tế. Agribank phát hành trái phiếu xanh giá trị 5.000 tỷ đồng. Vietcombank phát hành 2.000 tỷ đồng trái phiếu bền vững (tháng 12/2025)... Việc đánh giá rủi ro môi trường và xã hội được các ngân hàng chú trọng. Nhiều ngân hàng (BIDV, Vietcombank, VPBank, Agribank) đã thành lập bộ phận chuyên trách, công bố báo cáo phát triển bền vững theo chuẩn quốc tế. BIDV tiên phong trong việc phát hành trái phiếu xanh và tích hợp ESG vào hoạt động tín dụng bền vững. Vietcombank thành lập Hội đồng ESG cấp cao nhằm hoạch định chiến lược và phê duyệt các KPI ESG (6/2025); VPBank đột phá với báo cáo phát triển bền vững theo GRI đầu tiên (6/2025); Agribank thành lập Ban Chỉ đạo, Tổ giúp việc và triển khai thí điểm hệ thống đánh giá rủi ro ESG dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) tại một số chi nhánh trọng điểm... (Nguyễn Nhâm, 2026).

Trong hoạt động nội bộ, các TCTD đã chủ động xây dựng môi trường làm việc xanh thông qua việc tăng cường sử dụng nhiều thiết bị, công cụ tiết kiệm điện, giảm phát thải, nâng cao ý thức của toàn thể cán bộ, nhân viên qua các phong trào xây dựng môi trường làm việc xanh. Nhiều ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện tuyên truyền, khuyến khích cán bộ xây dựng môi trường làm việc xanh như các chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quy định tiêu chuẩn làm việc 5S; quản lý chặt chẽ chi phí năng lượng; một số ngân hàng đã đưa các chỉ tiêu về tiết kiệm vào KPI để đánh giá nhân viên định kỳ hoặc theo dõi mức tiêu thụ của nhân viên qua tài khoản riêng. Một số NHTM hiện đang triển khai xây dựng công trình, trụ sở theo tiêu chuẩn xanh và đầu tư các trang thiết bị hiện đại, thân thiện với môi trường. Đồng thời, hầu hết các đơn vị đều tích cực tham gia, ủng hộ và tài trợ cho nhiều phong trào cộng đồng về ngân hàng xanh, tăng trưởng xanh. Bên cạnh đó, có rất nhiều TCTD đã ban hành quy định nội bộ về rủi ro môi trường và tác động xã hội. Theo thống kê của NHNN, có 80%-90% các NHTM đã áp dụng một phần hoặc toàn bộ ESG (chỉ số đánh giá môi trường, xã hội và quản trị) trong hoạt động. Có tới gần 50% các NHTM và TCTD khác thành lập bộ phận quản trị rủi ro cho vay vốn tín dụng bảo vệ môi trường (Dương Văn Bôn, 2024).

Một số vấn đề đặt ra

Bên cạnh những kết quả đạt được, một số hạn chế, khó khăn trong quá trình chuyển đổi ngân hàng xanh đang đặt ra như: Quy định về quản lý rủi ro xã hội hay cơ chế hỗ trợ, khuyến khích cho các ngành, lĩnh vực xanh; Việc triển khai còn mang tính phân mảnh, chưa đồng bộ, đồng đều ở các ngân hàng do nhiều yếu tố liên quan đến vốn, định hướng chiến lược, kỹ thuật, công nghệ phân hóa phụ thuộc quy mô, nguồn lực và nhận thức của từng đơn vị; Cơ sở dữ liệu ngân hàng xanh chưa hoàn thiện do còn thiếu và yếu nguồn dữ liệu tin cậy, độc lập về chỉ số như môi trường, xã hội; các TCTD gặp khó trong việc thống kê, công bố kết quả tín dụng xanh; Chi phí xây dựng bộ máy phải gia tăng do ngân hàng cần xây dựng, thiết kế đơn vị/bộ phận chuyên trách đánh giá rủi ro môi trường, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Khung pháp lý và chính sách hỗ trợ chưa đủ mạnh. Tiêu chuẩn phân loại tài sản xanh thống nhất vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện. Chính sách ưu đãi về thuế, lãi suất, cơ chế chia sẻ rủi ro cho tài chính xanh còn hạn chế, chưa đủ sức hấp dẫn, thiếu cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả. Năng lực nội tại của hệ thống ngân hàng vẫn còn các thách thức. Thiếu chuyên gia am hiểu sâu cả về tài chính và môi trường; năng lực thẩm định dự án xanh, công nghệ mới còn hạn chế; hệ thống quản trị rủi ro môi trường chưa đồng bộ. Quy mô tín dụng xanh còn nhỏ, chỉ chiếm 4,19% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế. Tín dụng xanh mới chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực truyền thống (năng lượng tái tạo, nông nghiệp xanh, xử lý chất thải, nước thải). Các lĩnh vực then chốt khác như giao thông xanh, công trình xanh, sản xuất xanh còn ít dự án.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

Chuyển đổi xanh được xem là một trong những định hướng chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Theo đó, các khuyến nghị phát triển ngân hàng xanh trong thời gian tới được đưa ra như sau:

Một là, ngành Ngân hàng tiếp tục kiện toàn hệ thống văn bản pháp lý và bổ sung những cơ chế có tính chất nổi trội, khuyến khích và thúc đẩy các ngân hàng thành viên phát triển tín dụng xanh và xanh hóa hoạt động ngân hàng. Cụ thể như: (i) Ban hành hướng dẫn về hoạt động ngân hàng xanh; (ii) Hoàn thiện hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội tại các văn bản quy định pháp lý liên quan, tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế; (iii) Thực hiện đánh giá rủi ro tài chính liên quan đến môi trường, lồng ghép các rủi ro này vào khuôn khổ quản lý rủi ro vĩ mô thị trường tiền tệ; (iv) Phối hợp với các bộ, ngành chức năng để phát triển hệ thống thông tin dữ liệu phục vụ dự báo, cảnh báo và quản lý rủi ro môi trường, biến đổi khí hậu.

Xây dựng một bộ khung tiêu chí ESG quốc gia đồng bộ, dựa trên tham chiếu các chuẩn mực quốc tế như GRI, ISSB/IFRS S1&S2 và TCFD, nhằm đảm bảo tính minh bạch, khả năng so sánh và hội nhập. Nghiên cứu nâng cấp các quy định hiện hành thành một khung pháp lý toàn diện về ESG. Đưa yếu tố ESG vào quy trình thẩm định dự án, nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, quản lý rủi ro hệ thống, bảo vệ quyền lợi của cộng đồng, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Đảm bảo phát triển kinh tế không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai.Nghiên cứu thành lập Ban chỉ đạo ESG, bộ phận ESG chuyên trách. Phát triển chương trình đào tạo chuyên sâu về ESG cho cán bộ quản lý và nhân viên ngân hàng.

Hai là, xác định, lựa chọn mô hình phát triển ngân hàng xanh phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Ngân hàng xanh có thể tồn tại theo mô hình ngân hàng thông thường gắn liền với trách nhiệm xã hội, mục tiêu phát triển bền vững thông qua việc chuyển đổi tư duy cung ứng sản phẩm, dịch vụ, quy trình nội bộ, cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin theo hướng hỗ trợ tốt hơn cho việc giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường như mô hình ngân hàng xanh của First Green Bank (Mỹ), Triodos (Hà Lan), GLS Bank (Đức)... hoặc mô hình ngân hàng xanh được hình thành và hiện diện là một tổ chức tài chính chuyên biệt, thường được tài trợ bởi ngân sách công, với mục tiêu thúc đẩy đầu tư vào cơ sở hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu, phát thải ít carbon như mô hình Ngân hàng Đầu tư xanh GIB (Anh), Ngân hàng Tái thiết KfW (Đức). Việc lựa chọn mô hình phù hợp sẽ định hướng lối đi, cách thức vận hành và phát triển ngân hàng xanh trong tương lai.

Ba là, phát triển các sản phẩm, dịch vụ và công nghệ xanh. Theo đó, cần đa dạng hóa sản phẩm tín dụng xanh, như tín dụng cho năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió); tín dụng cho hiệu quả năng lượng (chiếu sáng LED, cải tạo hệ thống điều hòa); tín dụng cho quản lý tài nguyên và chất thải (xử lý nước thải, tái chế rác thải); tín dụng cho nông nghiệp xanh và bền vững (tưới tiết kiệm, nông nghiệp hữu cơ); tín dụng tiêu dùng xanh (xe điện, thiết bị tiết kiệm năng lượng, nhà ở xanh). Ưu đãi lãi suất, điều kiện vay vốn đối với các dự án thân thiện môi trường để khuyến khích khách hàng. Cụ thể là:

Tiếp tục khuyến khích phát hành trái phiếu xanh. Nhà nước và Ngân hàng Trung ương ưu đãi về vốn, giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc, điều chỉnh hệ số rủi ro thấp hơn đối với tài sản từ nguồn vốn trái phiếu xanh, nhằm giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí vốn và có nhiều vốn hơn để cho vay. Hỗ trợ chi phí phát hành; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập từ hoạt động liên quan đến trái phiếu xanh, hoặc miễn thuế thu nhập cá nhân cho nhà đầu tư mua trái phiếu xanh.

Thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xanh vào các dự án bền vững bằng việc xây dựng danh mục dự án xanh đủ tiêu chuẩn (phân loại xanh rõ ràng, thẩm định kỹ các dự án); phát triển sản phẩm tài chính xanh hấp dẫn (cho vay ưu đãi, bảo lãnh cho các dự án xanh, hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế); tạo dựng uy tín và năng lực của ngân hàng (chính sách môi trường và xã hội mạnh mẽ, công bố minh bạch, nâng cao năng lực nội bộ); marketing và xúc tiến đầu tư (tổ chức hội nghị kết nối, diễn đàn tài chính xanh, xây dựng thương hiệu về bền vững).

Thành lập quỹ đầu tư xanh để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh. Ngân hàng có thể thành lập quỹ đầu tư trực tiếp (sử dụng vốn tự có hoặc huy động để đầu tư vốn cổ phần, góp vốn vào các doanh nghiệp, dự án thuộc lĩnh vực xanh). Ngân hàng có thể hợp tác với các công ty quản lý quỹ để thành lập và quản lý các quỹ đầu tư xanh chuyên biệt, huy động vốn từ các nhà đầu tư tổ chức và cá nhân để đầu tư vào danh mục xanh.

Phát triển dịch vụ ngân hàng số thân thiện môi trường. Thực hiện chuyển đổi hoàn toàn sang dịch vụ không giấy tờ (số hóa toàn bộ quy trình, giảm in ấn tài liệu); tối ưu hóa trung tâm dữ liệu (sử dụng năng lượng tái tạo, làm mát tự nhiên, công nghệ tiết kiệm năng lượng); khuyến khích giao dịch trực tuyến, sử dụng hóa đơn điện tử, thanh toán không tiền mặt, giảm chi nhánh vật lý.

Bốn là, chú trọng đào tạo chuyên sâu về tài chính xanh, quản lý rủi ro môi trường, xây dựng đội ngũ cán bộ am hiểu về kinh tế xanh và ESG. Theo đó, cần thực hiện phân tầng đào tạo với từng đối tượng. Đối với cấp lãnh đạo, tập trung vào chiến lược và quản trị ESG. Đối với cán bộ trung gian, tăng cường đào tạo kỹ năng thẩm định, quản lý rủi ro môi trường. Đối với đội ngũ nhân viên nghiệp vụ, đi sâu vào những kiến thức cơ bản về sản phẩm và quy trình tài chính xanh. Áp dụng công nghệ trong đào tạo như xây dựng nền tảng đào tạo trực tuyến về tài chính xanh; sử dụng mô phỏng, case study thực tế để nâng cao hiệu quả học tập.

Gắn đào tạo với cơ chế khuyến khích cán bộ học tập (lồng ghép tiêu chí ESG vào đánh giá hiệu quả công việc, công nhận chứng chỉ chuyên môn về tài chính xanh). Hợp tác với các tổ chức quốc tế (IFC, ADB, WWF) để tiếp cận chuyên môn toàn cầu, phối hợp với trường đại học để xây dựng chương trình đào tạo chính quy.

Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế để tiếp cận nguồn vốn xanh, công nghệ và kinh nghiệm. Đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế như IFC, ADB, Quỹ Khí hậu Xanh (GCF). Tham gia liên minh ngân hàng bền vững (UNEP FI, NGFS), nhằm tiếp cận các khoản vay ưu đãi, tài trợ dự án xanh, cho vay liên kết bền vững, phát hành và đầu tư vào trái phiếu xanh, tài chính thương mại xanh, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển thị trường, chia sẻ kiến thức, minh bạch hóa thông tin và báo cáo. Thúc đẩy hợp tác công - tư nhằm thu hút vốn từ quỹ đầu tư quốc tế cho các dự án xanh quy mô lớn. Áp dụng các nguyên tắc ngân hàng xanh/tài chính xanh, tuân thủ các khung báo cáo bền vững, tham gia các sáng kiến toàn cầu, góp phần thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0”.

Sáu là, phát triển ngân hàng xanh cần đi đôi với việc xây dựng hệ thống dữ liệu và tiêu chuẩn báo cáo bền vững. Một cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính xanh được quản lý và chia sẻ giữa các bộ, ngành liên quan sẽ giúp việc giám sát, đánh giá hiệu quả tín dụng xanh trở nên minh bạch và nhất quán hơn. Các ngân hàng cũng nên thực hiện báo cáo phát triển bền vững hàng năm theo các chuẩn quốc tế như Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI) và Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), trong đó phản ánh cụ thể kết quả hoạt động xanh, lượng phát thải giảm được và tác động xã hội của các dự án được tài trợ.

Bảy là, nâng cao nhận thức xã hội về ngân hàng xanh và tài chính bền vững là giải pháp mang tính nền tảng. Các ngân hàng, hiệp hội nghề nghiệp, trường đại học và cơ quan truyền thông cần phối hợp chặt chẽ trong việc tuyên truyền, đào tạo và phổ biến kiến thức về lợi ích của ngân hàng xanh. Khi cộng đồng doanh nghiệp và người dân hiểu rõ hơn về giá trị của tín dụng xanh, họ sẽ chủ động tiếp cận và sử dụng các sản phẩm tài chính thân thiện môi trường.

Tài liệu tham khảo:

  1. Anh Minh (2026). Tín dụng xanh tăng tốc, mở đường chuyển đổi kinh tế bền vững, https://baochinhphu.vn/tin-dung-xanh-tang-toc-mo-duong-chuyen-doi-kinh-te-ben-vung-102260327163722698.htm.
  2. Anh Nhi (2026). 2025: Thị trường công trình xanh Việt Nam bứt phá “kỷ lục”, https://vneconomy.vn/2025-thi-truong-cong-trinh-xanh-viet-nam-but-pha-ky-luc.htm.
  3. Dương Văn Bôn (2024). Xu hướng phát triển tín dụng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, https://kinhtevadubao. vn/xu-huong-phat-trien-tin-dung-xanh-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-29151.html
  4. Hàn Đông (2026). Đến cuối năm 2025, cho vay lĩnh vực xanh gần 780 nghìn tỷ, chiếm 4.19% tổng dư nợ tín dụng, https://vietstock.vn/2026/03/den-cuoi-nam-2025-cho-vay-linh-vuc-xanh-gan-780-nghin-ty-chiem-419-tong-du-no-tin-dung-757-1415397.htm#:~.
  5. Nguyễn Nhâm (2026). Phát huy vai trò then chốt của ngân hàng xanh trong phát triển kinh tế xanh, https:// thitruongtaichinhtiente.vn/phat-huy-vai-tro-then-chot-cua-ngan-hang-xanh-trong-phat-trien-kinh-te-xanh-78008.html.
  6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2018). Quyết định số 1604/QĐ-NHNN, ngày 7/8/2018 phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam.
  7. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2024). Quyết định số 1663/QĐ-NHNN ngày 06/8/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 7/8/2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam.
  8. Ngân hàng Nhà nước (2022). Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
  9. Ngân hàng nước (2023). Quyết định số 1408/QĐ-NHNN, ngày 26/7/2023 ban hành kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030.
  10. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.
  11. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg, ngày 04/7/2025 quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh
  12. Trần Trọng Triết (2026). Tín dụng xanh: Nỗ lực lớn từ Ngân hàng, https://thitruongtaichinhtiente.vn/tin-dung-xanh-no-luc-lon-tu-ngan-hang-73994.html
Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 2 - Tháng 4/2026
TS.Nguyễn Thành Trung
Thích

Các tin khác

Video

Tin nổi bật