![]() |
| Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nội dung trọng tâm được Bộ Tài chính đề xuất trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Ảnh: Lê Toàn |
Xây dựng Cổng một cửa đầu tư quốc gia, quản lý dựa trên dữ liệu
Thực hiện yêu cầu tại Nghị quyết số 10-NQ/TW về đẩy mạnh số hóa, liên thông dữ liệu và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Bộ Tài chính đề xuất hoàn thiện quy định về Cổng một cửa đầu tư quốc gia.
Một trong những điểm mới là sửa đổi, bổ sung Điều 3 để làm rõ khái niệm Cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư và Cổng một cửa đầu tư quốc gia.
Theo dự thảo, Cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư là tập hợp dữ liệu về các dự án đầu tư, hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài, được tổ chức, quản lý, cập nhật, khai thác, chia sẻ thống nhất và kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các hệ thống thông tin có liên quan theo quy định pháp luật.
Trong khi đó, Cổng một cửa đầu tư quốc gia được xác định là nền tảng số được xây dựng, quản lý và vận hành thống nhất trên phạm vi toàn quốc, phục vụ công tác quản lý nhà nước và thực hiện thủ tục, hoạt động đầu tư kinh doanh.
Cổng cũng là nơi cập nhật, lưu trữ, khai thác và chia sẻ thông tin, dữ liệu về đầu tư tại Việt Nam, đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, xúc tiến đầu tư, khu công nghiệp, khu kinh tế và các lĩnh vực khác có liên quan.
Dự thảo cũng sửa đổi, bổ sung Điều 46 theo hướng tập trung quy định về Cổng một cửa đầu tư quốc gia, bao gồm hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư, cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư, các cơ sở dữ liệu liên quan và hạ tầng kỹ thuật của hệ thống.
Cùng với đó là quy định về trách nhiệm kết nối, chia sẻ, đồng bộ và khai thác dữ liệu trên Cổng một cửa đầu tư quốc gia, cũng như chế độ thu, nộp phí. Bộ Tài chính được giao hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin, qua đó bảo đảm nguồn lực cho việc nâng cấp, duy trì và vận hành Cổng một cửa đầu tư quốc gia.
Việc tích hợp các chức năng, thông tin và dữ liệu của Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư cùng các hệ thống hiện có sẽ giúp tránh tình trạng đầu tư, xây dựng các hệ thống độc lập, trùng lặp và phân tán dữ liệu. Quan trọng hơn, nguyên tắc kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu sẽ từng bước giảm yêu cầu nhà đầu tư phải cung cấp lại những thông tin đã có trong hệ thống.
Đây là cơ sở để chuyển dần phương thức quản lý đầu tư dựa trên hồ sơ sang quản lý dựa trên dữ liệu, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ nhà đầu tư, chất lượng phân tích, dự báo và điều hành chính sách.
Từ thu hút vốn sang thu hút đầu tư có chọn lọc
Cùng với số hóa quản lý, dự thảo Luật cũng hoàn thiện các quy định về hỗ trợ, giám sát, kiểm tra, đánh giá đầu tư và đầu mối hỗ trợ quá trình chuẩn bị, triển khai, thực hiện dự án.
Mục tiêu là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài, tăng cường giám sát việc thực hiện các cam kết của nhà đầu tư và có cơ sở xử lý phù hợp đối với trường hợp vi phạm cam kết, sử dụng lãng phí đất đai, tài nguyên, năng lượng hoặc gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, trật tự, an toàn xã hội.
Đồng thời, dự thảo thể chế hóa yêu cầu tại Nghị quyết số 10-NQ/TW về tổ chức thực hiện Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở cả Trung ương và địa phương.
Theo định hướng này, việc đánh giá không chỉ tập trung vào quy mô vốn mà chú trọng chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo người Việt Nam, phát triển nhà cung ứng, đóng góp ngân sách nhà nước, bảo vệ môi trường, tuân thủ pháp luật và an ninh kinh tế.
Cách tiếp cận cũng hướng tới quản trị toàn bộ vòng đời dự án và tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.
Một nội dung khác được dự thảo điều chỉnh là phân định chức năng quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu kinh tế. Theo Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP ngày 4/9/2026 của Chính phủ về xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất, khoáng sản, nhiệm vụ quản lý nhà nước về khu công nghiệp của Bộ Tài chính quy định tại Luật và các nghị định được điều chỉnh để Bộ Công Thương thực hiện.
Để bảo đảm đồng bộ với Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP và thống nhất đầu mối quản lý nhà nước, dự thảo đề xuất theo hướng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về khu kinh tế, Bộ Công Thương chủ trì thực hiện quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu chế xuất.
Đáng chú ý, dự thảo Luật cũng sửa đổi mục tiêu xúc tiến đầu tư tại khoản 3 Điều 49 theo hướng chuyển từ thu hút đầu tư chủ yếu về số lượng sang thu hút có chọn lọc. Theo đó, chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, tác động lan tỏa, liên kết và đóng góp thực chất cho phát triển kinh tế - xã hội được xác định là những mục tiêu chủ yếu.
Định hướng này phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư tại Nghị quyết số 10-NQ/TW, chuyển từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Cùng với đó, dự thảo Luật bổ sung nguyên tắc đối với việc áp dụng ưu đãi, hỗ trợ và bảo đảm đầu tư. Theo đề xuất, các chính sách này phải bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và doanh nghiệp; đồng thời góp phần nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia.
Như vậy, các quy định được sửa đổi, bổ sung tại dự thảo Luật không chỉ hướng tới tạo thuận lợi cho nhà đầu tư mà còn đặt lại trọng tâm của chính sách đầu tư nước ngoài, từ quản lý bằng hồ sơ sang quản lý bằng dữ liệu, từ thu hút theo số lượng sang lựa chọn theo chất lượng và từ ưu đãi đơn thuần sang gắn ưu đãi với hiệu quả, đóng góp và năng lực tự chủ của nền kinh tế.



