![]() |
| Cần đầu tư đúng trọng tâm, tạo giá trị thực trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. |
Gỡ điểm nghẽn để nguồn lực được hấp thụ hiệu quả
Theo Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Khoa học và Công nghệ), sau 1 năm 8 tháng triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, nhiều điểm nghẽn về cơ chế, chính sách và nguồn lực đã được tháo gỡ. Hệ thống pháp luật mới từng bước hình thành hành lang thuận lợi cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Việc ngân sách dành cho các lĩnh vực này trong năm 2026 lên khoảng 95.000 tỷ đồng, tương đương 3% tổng chi ngân sách nhà nước, được xem là bước cụ thể hóa quyết tâm đưa khoa học, công nghệ trở thành động lực quan trọng của phát triển đất nước. Tuy nhiên, quy mô vốn lớn đòi hỏi năng lực tổ chức thực hiện phải được nâng lên tương ứng.
Vụ Kế hoạch - Tài chính đánh giá, điểm nghẽn hiện nay đang chuyển dần từ cơ chế sang khâu triển khai. Ở một số nơi vẫn xuất hiện tâm lý e ngại, sợ sai, né tránh trách nhiệm khi vận dụng các chính sách mới. Điều này khiến quá trình đề xuất nhiệm vụ, phân bổ kinh phí và tổ chức thực hiện kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ giải ngân.
| Theo báo cáo doanh thu lĩnh vực công nghiệp công nghệ số tháng 8/2026 ước đạt 680.586 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ năm 2025; kim ngạch xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa công nghệ số ước đạt 22,4 tỷ USD, tăng 41%. Đến cuối kỳ tháng 8/2026, cả nước có 968 doanh nghiệp khoa học và công nghệ và 20 đơn vị sàn giao dịch khoa học và công nghệ. |
Một vấn đề khác là chất lượng chuẩn bị nhiệm vụ chưa đồng đều giữa các đơn vị. Một số đề xuất chưa xác định rõ mục tiêu, sản phẩm đầu ra, hiệu quả kinh tế - xã hội hoặc nhu cầu kinh phí. Khi hồ sơ phải điều chỉnh nhiều lần trong quá trình thẩm định, thời gian giao dự toán bị kéo dài, đồng thời làm giảm thời gian triển khai thực tế của nhiệm vụ.
Năng lực hấp thụ vốn tại một số bộ, ngành, địa phương cũng là vấn đề cần được quan tâm. Những chương trình khoa học, công nghệ và chuyển đổi số quy mô lớn đòi hỏi đội ngũ chuyên môn, năng lực quản trị dự án và khả năng phối hợp giữa nhiều chủ thể. Nếu thiếu sự chuẩn bị, nguồn lực được bố trí có thể chưa chuyển hóa nhanh thành sản phẩm cụ thể.
Để khắc phục tình trạng này, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 29/CT-TTg về đẩy nhanh tiến độ triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026. Trọng tâm của Chỉ thị là tăng kỷ luật thực thi, rà soát nhiệm vụ và xử lý những dự án triển khai chậm.
Theo Vụ Kế hoạch - Tài chính, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay là chuyển mạnh từ tư duy “đúng quy trình” sang “chịu trách nhiệm về kết quả”. Một nhiệm vụ được phê duyệt hoặc kinh phí được giải ngân mới là điều kiện ban đầu. Giá trị cuối cùng phải được thể hiện qua công nghệ, sản phẩm, nền tảng số và những tác động cụ thể đối với kinh tế - xã hội.
Dồn vốn cho những nhiệm vụ tạo sức lan tỏa
Từ nay đến cuối năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ xác định trọng tâm là đưa các cơ chế, chính sách và nguồn lực đã được quyết định vào thực tiễn. Nguồn vốn cần được tập trung cho các chương trình, dự án có khả năng tạo tác động lan tỏa, hạn chế tình trạng phân tán nguồn lực cho những nhiệm vụ có quy mô nhỏ hoặc thiếu sản phẩm đầu ra rõ ràng.
Các nhóm được ưu tiên gồm công nghệ chiến lược, phòng thí nghiệm trọng điểm, hạ tầng số, cơ sở dữ liệu, nền tảng số dùng chung và những sản phẩm phục vụ trực tiếp người dân, doanh nghiệp. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo nền tảng dài hạn, hỗ trợ nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành những động lực tăng trưởng mới.
Vụ Kế hoạch - Tài chính cho rằng việc lựa chọn nhiệm vụ cần dựa trên tính cấp thiết, khả năng triển khai và tác động dự kiến. Mỗi chương trình cần xác định rõ mục tiêu, tiến độ, sản phẩm đầu ra và hiệu quả kinh tế - xã hội. Cách tiếp cận này giúp cơ quan quản lý có cơ sở theo dõi, đánh giá và đưa ra quyết định điều chỉnh nguồn lực khi cần thiết.
Cùng với việc tập trung vốn, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp với Bộ Tài chính, các bộ, ngành và địa phương rà soát toàn bộ danh mục nhiệm vụ. Những nhiệm vụ chậm triển khai sẽ được theo dõi sát để xác định nguyên nhân. Trường hợp không có khả năng thực hiện đúng tiến độ, nguồn lực có thể được điều chuyển sang nhiệm vụ có khả năng hấp thụ vốn tốt hơn.
Việc điều chuyển vốn theo tiến độ cũng tạo ra cơ chế thúc đẩy các đơn vị nâng cao trách nhiệm. Nơi triển khai tốt có thêm điều kiện mở rộng nhiệm vụ, trong khi những chương trình chậm phải nhanh chóng khắc phục hạn chế. Đây là cách quản lý ngân sách hướng tới hiệu quả sử dụng nguồn lực, thay vì xem việc hoàn thành thủ tục hành chính là mục tiêu cuối cùng.
Trong lĩnh vực chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số dùng chung được kỳ vọng tạo ra hiệu ứng rõ nét. Khi dữ liệu được kết nối và khai thác hiệu quả, cơ quan nhà nước có thể nâng chất lượng quản lý, giảm chi phí vận hành. Doanh nghiệp cũng có thêm điều kiện tiếp cận dữ liệu, phát triển dịch vụ và đưa công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đối với khoa học và công nghệ, giá trị của đầu tư cần được nhìn từ khả năng hình thành công nghệ mới, sản phẩm mới và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Những kết quả này cần có khả năng ứng dụng, thương mại hóa hoặc tạo tác động rõ ràng tới năng suất và sức cạnh tranh. Đây sẽ là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả của nguồn ngân sách dành cho lĩnh vực này.
Theo Vụ Kế hoạch - Tài chính, giai đoạn cuối năm 2026 cần tạo chuyển biến rõ hơn trong tổ chức thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW. Các chính sách đã được hoàn thiện cần nhanh chóng đi vào cuộc sống, nguồn lực cần được phân bổ đúng trọng tâm và tiến độ thực hiện phải được kiểm soát thường xuyên.
Khoảng 95.000 tỷ đồng là nguồn lực lớn cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nếu được phân bổ đúng địa chỉ, quản lý theo kết quả và gắn trách nhiệm với tiến độ, nguồn vốn này có thể tạo thêm động lực cho tăng trưởng. Điều quan trọng là mỗi khoản đầu tư cần được chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ và giá trị cụ thể cho nền kinh tế và xã hội.



