Chính phủ thúc tiến độ, nguồn lực phải đi cùng công trường
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại càng trở nên cấp thiết. Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV xác định tập trung đầu tư các tuyến đường bộ cao tốc theo quy hoạch, phấn đấu đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc. Đây được đặt trong tổng thể mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, gắn với yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư.
![]() |
| Thiết kế Infograhic có sự hỗ trợ của AI. |
Những con số này cho thấy mục tiêu 5.000 km không phải một đích đến xa về mặt thời gian, mà là một khối lượng công việc rất lớn đang đặt ra trước mắt. Khoảng cách từ một dự án trên giấy đến một tuyến đường thực sự đưa vào khai thác nằm ở năng lực tổ chức thực hiện, khả năng giải ngân và xử lý kịp thời những điểm nghẽn phát sinh.
Yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng chiến lược ngày càng được cụ thể hóa. Trong tổ chức thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số, Chính phủ xác định phát triển kết cấu hạ tầng là một trong những động lực quan trọng, đồng thời yêu cầu quản trị thực thi dựa trên kết quả, tiến độ và hiệu quả thực tế.
Đối với các dự án cao tốc, bài toán này càng rõ nét. Một dự án có thể chậm không chỉ vì thiếu vốn, mà còn do mặt bằng chưa bàn giao, nguồn vật liệu chưa đáp ứng, thủ tục chưa hoàn tất, thiết kế cần điều chỉnh hoặc các vấn đề kỹ thuật phát sinh trong quá trình thi công. Vì vậy, đẩy nhanh giải ngân cao tốc thực chất là một quá trình phối hợp nhiều khâu, nhiều cơ quan và nhiều cấp.
Trong tổng thể đó, vai trò của Bộ Tài chính thể hiện không chỉ ở việc tham gia bố trí, quản lý và điều hành nguồn lực tài chính công, mà còn ở việc thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước tham gia đầu tư hạ tầng. Đây là mắt xích quan trọng để nguồn lực của Nhà nước, nguồn lực doanh nghiệp và tiến độ các dự án được kết nối với nhau hiệu quả hơn.
Một minh chứng đáng chú ý là Quyết định số 1907/QĐ-BTC ngày 17/7/2026 của Bộ Tài chính về giao nhiệm vụ và một số chỉ tiêu cơ bản đối với Chiến lược phát triển của Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) giai đoạn 2026-2030. Theo đó, VEC được định hướng phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong phát triển hệ thống đường bộ cao tốc quốc gia theo quy hoạch, tập trung nguồn lực tham gia đầu tư phát triển, khai thác, vận hành các tuyến cao tốc.
Cùng với đó, chiến lược của VEC được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030, đồng thời yêu cầu bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Báo cáo 6 tháng đầu năm 2026 của VEC cho thấy quy mô công việc mà doanh nghiệp này đang đảm nhận rất lớn. Tổng giá trị sản lượng thực hiện các dự án đạt 4.688 tỷ đồng, trong khi tổng giá trị giải ngân từ đầu năm đạt 1.939,1 tỷ đồng.
Đằng sau những con số đó là nhiều dự án với tiến độ, quy mô và những điểm nghẽn khác nhau.
|
| Dự án mở rộng đoạn Yên Bái - Lào Cai. Ảnh VEC. |
Như tại dự án cao tốc Bến Lức - Long Thành, tổng giá trị sản lượng từ đầu năm đạt 256 tỷ đồng, giải ngân 178 tỷ đồng. Công tác giải phóng mặt bằng trên tuyến chính đã hoàn thành. Đến nay, dự án đã hoàn thành 98,13% công tác thi công xây lắp, tương ứng 55/58 km.
Trong khi đó, dự án mở rộng đoạn Yên Bái - Lào Cai thuộc tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai đang tạo ra khối lượng sản xuất lớn. Trong 6 tháng đầu năm, giá trị sản lượng đạt 1.925,5 tỷ đồng, giải ngân 335 tỷ đồng.
Đây là dự án có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng năng lực khai thác của tuyến cao tốc kết nối Hà Nội với các tỉnh phía Tây Bắc. Vì vậy, mỗi phần trăm tiến độ được rút ngắn không chỉ mang ý nghĩa về giải ngân, mà còn góp phần sớm nâng cao năng lực vận tải trên toàn tuyến.
Một trong những dự án có khối lượng lớn nhất trong danh mục VEC đang triển khai là mở rộng cao tốc TP.HCM - Long Thành.
Trong 6 tháng đầu năm, dự án đạt tổng giá trị sản lượng 2.492 tỷ đồng và giải ngân 1.393,8 tỷ đồng. Hai gói thầu xây lắp XL01 và XL02 hiện đạt tổng sản lượng khoảng 3.742 tỷ đồng, tương đương khoảng 55% giá trị hợp đồng.
Tuy nhiên, tiến độ dự án vẫn chịu tác động từ công tác giải phóng mặt bằng. Tại TP. Hồ Chí Minh, 151/159 trường hợp đã bàn giao mặt bằng, tương đương khoảng 95%. Tại Đồng Nai, 229/257 trường hợp đã bàn giao, đạt khoảng 89,1%; vẫn còn khoảng 28 trường hợp tại phường Long Thành chưa đồng thuận bàn giao mặt bằng.
Những con số này cho thấy một thực tế: với các dự án hạ tầng lớn, giải ngân và thi công không phải hai quá trình tách rời. Một vị trí mặt bằng chưa được bàn giao có thể ảnh hưởng đến việc triển khai mố, trụ, đường dẫn; từ đó tác động đến tiến độ của cả gói thầu.
Việc VEC cùng nhà thầu và chính quyền địa phương vận động người dân bàn giao trước một số vị trí để thi công các mố, trụ cầu dẫn cầu Long Thành là một ví dụ về cách xử lý theo hướng linh hoạt, bám sát công trường. Nhưng về lâu dài, tiến độ của dự án vẫn phụ thuộc vào khả năng hoàn tất mặt bằng và phối hợp đồng bộ giữa các bên.
Đích đến không chỉ là 5.000 km đường cao tốc
Phát triển cao tốc là một cuộc đua về tiến độ, nhưng đích đến cuối cùng không chỉ nằm ở con số 5.000 km.
Mỗi tuyến đường hoàn thành phải tạo ra năng lực kết nối mới cho nền kinh tế. Cao tốc phải kết nối được các vùng sản xuất với thị trường, khu công nghiệp với cảng biển, đô thị với sân bay, cửa khẩu với các trung tâm logistics. Khi đó, giá trị của một tuyến đường không chỉ nằm trong tổng mức đầu tư hay số km hoàn thành mà còn ở lượng hàng hóa, hành khách, dòng vốn và cơ hội phát triển được mở ra sau khi tuyến đường đưa vào khai thác.
Đó cũng là lý do Trung ương đặt phát triển cao tốc trong tổng thể mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất để mở rộng không gian kinh tế; còn tiến độ đầu tư, giải ngân và đưa công trình vào khai thác là thước đo trực tiếp của năng lực tổ chức thực hiện.
Với hệ thống dự án trải dài trên nhiều địa phương, những kết quả tại VEC cho thấy một hướng đi đang được hình thành: Nhà nước xác lập mục tiêu và cơ chế; Chính phủ tổ chức điều hành, tháo gỡ điểm nghẽn; các bộ, ngành phối hợp về nguồn lực, thủ tục và quản lý; địa phương tập trung giải phóng mặt bằng; còn doanh nghiệp trực tiếp tổ chức triển khai trên công trường.
Trong mô hình đó, mỗi tỷ đồng giải ngân đúng tiến độ, mỗi điểm nghẽn được tháo gỡ và mỗi km cao tốc hoàn thành đều là một phần cụ thể của quá trình biến mục tiêu tăng trưởng thành năng lực thực tế của nền kinh tế.
Và từ nay đến năm 2030, với mục tiêu hơn 5.000 km cao tốc, yêu cầu lớn nhất không còn là “có chủ trương hay không”, mà là làm thế nào để từng dự án chuyển nhanh hơn từ kế hoạch sang công trường, từ công trường sang giải ngân và từ giải ngân sang những tuyến đường thực sự tạo ra động lực tăng trưởng.
| Tại buổi làm việc của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc và Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng làm việc với Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và một số bộ, ngành liên quan về rà soát, đầu tư, hoàn thiện các tuyến đường bộ cao tốc quy mô phân kỳ ngày 4/8, Thứ trưởng Bộ Tài chính Tạ Anh Tuấn nhận định, trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, việc bố trí vốn cần ưu tiên các dự án quan trọng quốc gia, dự án chuyển tiếp, các dự án hoàn thành cần quyết toán, thanh toán nghĩa vụ hợp đồng BOT, BT và xử lý nợ xây dựng cơ bản; các nhu cầu đầu tư còn lại sẽ tiếp tục được rà soát, cân đối khi có điều kiện về nguồn lực. Đồng thời, việc mở rộng các tuyến cao tốc cần được tính toán thời điểm phù hợp nhằm bảo đảm hiệu quả đầu tư. Hai Phó Thủ tướng cũng thống nhất chủ trương từng bước đầu tư hoàn thiện các tuyến cao tốc được đầu tư theo quy mô phân kỳ, đồng thời yêu cầu việc triển khai phải bám sát khả năng cân đối nguồn lực và mục tiêu phát triển hạ tầng giao thông trong nhiệm kỳ. |




