Tin mới
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khơi thông nguồn lực tài chính để thực hiện Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2030

Khơi thông nguồn lực tài chính để thực hiện Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2030
Việt Nam hiện được xếp trong nhóm các quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới, song cũng đang đối mặt với áp lực suy giảm tài nguyên thiên nhiên ngày càng gia tăng.

Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia của Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành hệ thống gồm 178 khu bảo tồn hiện có và 61 khu bảo tồn mới, nâng tổng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên lên khoảng 6,6 triệu ha, bao gồm các khu bảo tồn trên cạn, đất ngập nước và biển. Đây là một trong những chương trình bảo tồn thiên nhiên có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn cho bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái và nâng cao năng lực quản lý.

Việt Nam hiện được xếp trong nhóm các quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới, song cũng đang đối mặt với áp lực suy giảm tài nguyên thiên nhiên ngày càng gia tăng. Theo đánh giá của Chương trình Tài chính đa dạng sinh học (BIOFIN), tổng chi cho đa dạng sinh học của Việt Nam giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 1 tỷ USD, trong đó khoảng 75% nguồn lực đến từ khu vực công. Tuy nhiên, để hoàn thành các mục tiêu bảo tồn trong giai đoạn tiếp theo, Việt Nam cần bổ sung thêm khoảng 600 triệu USD chỉ riêng cho giai đoạn 2020-2025 và nhu cầu này tiếp tục gia tăng trong giai đoạn 2026-2030.

Nhằm tăng cường nguồn lực trong nước, những năm gần đây, Bộ Tài chính đã tiếp tục hoàn thiện các cơ chế tài chính phục vụ bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên thông qua ngân sách nhà nước, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, chi trả dịch vụ môi trường rừng và các chính sách ưu đãi cho đầu tư xanh. Riêng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng đã trở thành một trong những mô hình tài chính bảo tồn hiệu quả nhất hiện nay, tạo nguồn thu ổn định khoảng 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho công tác quản lý, bảo vệ rừng và cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương. Nguồn lực này đang góp phần bảo vệ hàng triệu héc-ta rừng và duy trì các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng.

Bên cạnh nguồn lực trong nước, các dự án quốc tế tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong thực hiện các mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học. Năm 2025, Quỹ Môi trường Toàn cầu đã phê duyệt dự án “Tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học và giảm tính dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu tại miền Trung Việt Nam” với khoản tài trợ 9 triệu USD, đồng thời huy động thêm 106,5 triệu USD vốn đối ứng và đồng tài trợ từ các đối tác phát triển. Dự án hướng tới xây dựng mô hình bảo tồn cảnh quan quy mô lớn, kết hợp giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển sinh kế bền vững.

Song song với các dự án đầu tư trực tiếp, sáng kiến BIOFIN do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc hỗ trợ đang giúp Việt Nam xây dựng các giải pháp tài chính dài hạn cho bảo tồn thiên nhiên. Theo UNDP, đến cuối năm 2025, chương trình BIOFIN trên toàn cầu đã hỗ trợ các quốc gia huy động được hơn 2,7 tỷ USD cho các mục tiêu bảo tồn thiên nhiên; đồng thời thúc đẩy việc áp dụng hơn 150 giải pháp tài chính đổi mới như trái phiếu xanh, tín chỉ đa dạng sinh học, chi trả dịch vụ hệ sinh thái và quỹ đầu tư bảo tồn. Việt Nam hiện là một trong những quốc gia tham gia tích cực vào sáng kiến này.

Các chuyên gia cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở quy mô nguồn vốn mà còn ở cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực. Trong khi ngân sách nhà nước vẫn là nguồn tài trợ chủ đạo thì sự tham gia của khu vực tư nhân còn khá hạn chế. Nhiều công cụ tài chính mới như tín chỉ carbon, trái phiếu xanh, tín chỉ đa dạng sinh học, quỹ đầu tư tác động hay hợp tác công – tư trong bảo tồn thiên nhiên vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu. Điều này khiến nguồn lực xã hội chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng.

Để thực hiện hiệu quả Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2030, các chuyên gia khuyến nghị cần chuyển mạnh từ tư duy “chi ngân sách cho bảo tồn” sang “đầu tư vào vốn tự nhiên”. Theo đó, cần ưu tiên hoàn thiện cơ chế tài chính cho thị trường carbon, mở rộng chi trả dịch vụ hệ sinh thái, phát triển trái phiếu xanh và các quỹ bảo tồn thiên nhiên; đồng thời tăng cường thu hút nguồn lực từ các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và cộng đồng.

Khi các dòng vốn được kết nối hiệu quả với mục tiêu bảo tồn, đa dạng sinh học sẽ không chỉ là tài sản môi trường mà còn trở thành nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển bền vững của Việt Nam trong những thập niên tới.

Khánh Chi
Thích

Các tin khác

Video

Tin nổi bật