Tin mới
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Giảm thuế tác động trực tiếp đến dòng tiền, hỗ trợ thanh khoản và năng lực tái đầu tư của khu vực tư nhân

Trình bày Tờ trình của Chính phủ tại phiên họp thứ 5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chiều 20/8, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, Chính phủ đề xuất Quốc hội xem xét giảm 30% thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh của cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng. Đánh giá cao những đề xuất này, PGS.TS. Nguyễn Anh Phong - Trưởng khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định, các chính sách này sẽ tác động trực tiếp đến dòng tiền của doanh nghiệp và hộ kinh doanh, góp phần hỗ trợ thanh khoản và năng lực tái đầu tư của khu vực tư nhân.

giảm thuế

PGS.TS. Nguyễn Anh Phong
Trưởng khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - Luật
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Phóng viên: Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ ngày 3/8, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính đề xuất biện pháp về thuế để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cá nhân, hộ kinh doanh, theo hướng áp dụng ngay trong năm 2026. Ông đánh giá như thế nào về điều này?

PGS.TS. Nguyễn Anh Phong: Tôi đánh giá chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là đúng hướng, đúng thời điểm và có ý nghĩa rất rõ trong việc chuyển chủ trương phát triển kinh tế tư nhân thành chính sách hỗ trợ có tác động trực tiếp đến dòng tiền của doanh nghiệp và hộ kinh doanh.

Trước hết, chỉ đạo này phù hợp chặt chẽ với Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, đồng thời yêu cầu có chính sách hỗ trợ thực chất đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh; đơn giản hóa chế độ kế toán, thuế, bảo hiểm; cải thiện khả năng tiếp cận tài chính và tạo điều kiện để hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Vì vậy, việc Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính xây dựng ngay giải pháp thuế cho nhóm này không phải là một biện pháp ứng phó ngắn hạn đơn lẻ, mà là bước cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW.

Điểm quan trọng thứ hai là tính cấp thiết của chính sách. Các chỉ số vĩ mô năm 2026 nhìn chung vẫn tích cực, nhưng khu vực doanh nghiệp đang chịu sức ép tương đối lớn. Theo Cục Thống kê, trong 7 tháng năm 2026 có 187,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, nhưng đồng thời có tới 155,3 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 7,6% so với cùng kỳ. Riêng tháng 7, hơn 10,3 nghìn doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể và hơn 7,2 nghìn doanh nghiệp hoàn tất giải thể; các con số này tăng rất mạnh so với cùng kỳ.

Xu hướng khó khăn đã xuất hiện khá rõ từ đầu năm. Trong quý I/2026, 30,1% doanh nghiệp chế biến, chế tạo được khảo sát cho biết tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn quý trước. Cũng trong quý I, có tới 91,8 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 16,5% so với cùng kỳ. Đến 6 tháng đầu năm, số doanh nghiệp rút khỏi thị trường đã lên 151,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 18,8%, trong đó số doanh nghiệp hoàn tất giải thể tăng rất mạnh.

Một vấn đề khác là chi phí sản xuất và kinh doanh đang gây áp lực trực tiếp lên biên lợi nhuận và dòng tiền. Khảo sát nhanh 228 doanh nghiệp do Ban IV phối hợp với cơ quan thuộc Bộ Tài chính thực hiện tháng 3/2026 cho thấy 62,7% doanh nghiệp đánh giá tác động của việc tăng chi phí đầu vào ở mức lớn hoặc rất lớn, và 55,3% cho biết tác động đã thực sự xảy ra. Trong điều kiện đó, doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh thường chịu tác động mạnh hơn doanh nghiệp lớn vì vốn mỏng hơn, khả năng tiếp cận tín dụng hạn chế hơn và ít khả năng chuyển phần chi phí tăng thêm sang giá bán.

Do đó, tôi cho rằng giảm thuế trong giai đoạn hiện nay nên được nhìn nhận như một biện pháp hỗ trợ thanh khoản và năng lực tái đầu tư của khu vực tư nhân, chứ không chỉ đơn thuần là Nhà nước “thu ít thuế hơn”. Một đồng thuế được giảm ở thời điểm doanh nghiệp gặp khó khăn có thể trở thành một đồng vốn lưu động để trả lương, mua nguyên vật liệu, duy trì đơn hàng hoặc đầu tư trở lại cho sản xuất. Nếu doanh nghiệp tồn tại và mở rộng được quy mô thì về trung và dài hạn, cơ sở thuế sẽ lớn hơn. Đây chính là cách tiếp cận “nuôi dưỡng nguồn thu” thay vì tối đa hóa nguồn thu trong ngắn hạn.

Đặc biệt, việc tập trung vào doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ và cá nhân kinh doanh là hợp lý vì đây là nhóm nhạy cảm nhất với thay đổi về thuế, chi phí tuân thủ và dòng tiền. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đã xác định các nhóm này cần được hỗ trợ về tín dụng, thuế, kế toán, công nghệ, thị trường, tư vấn và phát triển nguồn nhân lực. Hiện Bộ Tài chính cũng đang xây dựng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sửa đổi theo hướng nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Phóng viên: Tại sao Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện hồ sơ để trình Quốc hội ngay tại kỳ họp đang diễn ra, mà thay vì chờ đến tháng 10, thưa ông?

PGS.TS. Nguyễn Anh Phong: Với chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, “thời điểm” đôi khi quan trọng không kém “mức hỗ trợ”. Nếu doanh nghiệp đang gặp khó khăn về dòng tiền mà chính sách đến sau 3-6 tháng thì nhiều doanh nghiệp yếu đã có thể ngừng hoạt động trước khi được hưởng lợi. Tôi đánh giá cao yêu cầu không chờ đến kỳ họp Quốc hội tháng 10 mà phải trình ngay trong tháng 8/2026. Tuy nhiên, tôi cho rằng chính sách cần bảo đảm ba điều kiện để đạt hiệu quả.

Thứ nhất, phải đúng đối tượng, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh thực sự đang hoạt động, tránh việc chia nhỏ doanh nghiệp hoặc chia nhỏ doanh thu để hưởng ưu đãi.

Thứ hai, giảm thuế phải đi cùng đơn giản hóa thủ tục thuế và kế toán, bởi với hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, chi phí tuân thủ đôi khi quan trọng không kém số thuế phải nộp.

Thứ ba, chính sách thuế cần được đặt trong một gói hỗ trợ tổng thể, kết hợp tín dụng, mặt bằng, chuyển đổi số, thị trường và giảm thủ tục hành chính; nếu chỉ giảm thuế trong khi doanh nghiệp không có đơn hàng hoặc không tiếp cận được vốn thì tác động sẽ hạn chế.

Phóng viên: Trình bày Tờ trình của Chính phủ tại Phiên họp thứ 5, chiều 20/8, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, Chính phủ đề xuất Quốc hội xem xét giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027. Xin ông chia sẻ thêm về điều này?

PGS.TS. Nguyễn Anh Phong: Được biết, tại tại Phiên họp thứ 5, trình bày tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính đề xuất giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú có mức doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng. Đồng thời, giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có mức doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng.

Tôi cho rằng, Bộ Tài chính đã thực hiện kịp thời, nghiêm túc chỉ đạo của Thủ tướng về đề xuất giảm thuế để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cá nhân, hộ kinh doanh. Như đã đề cập ở trên, tôi cho rằng các đề xuất giảm này là cần thiết, đúng đối tượng và đúng thời điểm.

Trước hết, chính sách này cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, theo hướng hỗ trợ thực chất doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh, coi khu vực kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.

Thứ hai, chính sách đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh sức khỏe doanh nghiệp còn nhiều khó khăn. Trong 7 tháng năm 2026, dù có 187,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, vẫn có tới 155,3 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, cho thấy áp lực về chi phí, dòng tiền và thị trường vẫn rất lớn. Quan trọng hơn, giảm thuế chính là hỗ trợ trực tiếp dòng tiền. Phần thuế được giảm có thể trở thành nguồn vốn để doanh nghiệp và hộ kinh doanh duy trì hoạt động, trả lương, mua nguyên liệu, đầu tư công nghệ và mở rộng sản xuất. Từ đó hình thành tác động lan tỏa: giảm thuế dẫn đến cải thiện dòng tiền làm tăng đầu tư và sản xuất từ đó tạo việc làm, tăng thu nhập, mở rộng cơ sở thuế và nguồn thu trong tương lai sẽ tốt hơn. Vì vậy, không nên chỉ nhìn chính sách này dưới góc độ giảm thu ngân sách trong ngắn hạn, mà cần nhìn theo tư duy “nuôi dưỡng nguồn thu”. Nhà nước chấp nhận giảm một phần thu trước mắt để doanh nghiệp có điều kiện tồn tại và phát triển, qua đó tạo cơ sở thuế rộng hơn và nguồn thu ngân sách bền vững hơn trong trung và dài hạn.

Phóng viên: Từ việc khẩn trương đề xuất các chính sách hỗ trợ này, ông đánh giá như thế nào về tinh thần đồng hành, chia sẻ khó khăn đối với cộng đồng doanh nghiệp, hộ kinh doanh của Bộ Tài chính, thưa ông?

PGS.TS. Nguyễn Anh Phong: Tôi đánh giá cao tinh thần chủ động, đồng hành và chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh của Bộ Tài chính. Thời gian qua, Bộ đã kịp thời tham mưu nhiều chính sách về miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất, qua đó hỗ trợ trực tiếp dòng tiền và giảm chi phí cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều đáng ghi nhận là tư duy chính sách đang chuyển từ chú trọng nguồn thu trước mắt sang hỗ trợ và “nuôi dưỡng nguồn thu” dài hạn, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Trong bối cảnh doanh nghiệp còn chịu nhiều áp lực về chi phí, thị trường và vốn, chính sách hỗ trợ càng kịp thời, thủ tục càng đơn giản thì hiệu quả càng lớn. Đây không chỉ là chia sẻ khó khăn trước mắt mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi, mở rộng sản xuất và đóng góp bền vững hơn cho ngân sách.

Phóng viên: Xin cảm ơn ông!

PV.
Thích

Các tin khác

Video

Tin nổi bật