![]() |
| Đề xuất giảm thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm trong 2 năm 2026-2027 có thể coi là một phép thử về tư duy điều hành tài khóa mới. |
Đề xuất giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm 2026-2027 đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm không chỉ là một biện pháp hỗ trợ.
Nhìn rộng hơn, đây là phép thử đối với tư duy điều hành tài khóa mới: Nhà nước chủ động sử dụng một phần dư địa ngân sách để tăng sức chống chịu của khu vực sản xuất, kinh doanh, nhưng đồng thời phải bảo đảm chính sách đúng đối tượng, không tạo “điểm gãy” ở ngưỡng doanh thu và quan trọng nhất là biến giảm thu hôm nay thành cơ sở thu bền vững hơn ngày mai.
Thay đổi tư duy “thu được bao nhiêu” sang “nguồn thu được tạo ra như thế nào”
Ngày 20/8/2026, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét dự án Nghị quyết về giảm thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Theo đề xuất của Chính phủ, hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế thu nhập phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027. Chính phủ dự kiến chính sách làm giảm thu ngân sách khoảng 3.191 tỷ đồng năm 2026 và 3.510 tỷ đồng năm 2027, tổng cộng khoảng 6.701 tỷ đồng.
Cần nhấn mạnh đây là giảm 30% số thuế phải nộp, chứ không phải giảm thuế suất đi 30 điểm phần trăm. Sự khác biệt này rất quan trọng. Chính sách không đảo lộn cấu trúc hệ thống thuế hiện hành mà tạo thêm một lớp hỗ trợ có thời hạn, tập trung vào một nhóm người nộp thuế cụ thể.
Nếu chỉ nhìn khoản 6.701 tỷ đồng như một con số “giảm thu ngân sách”, chúng ta sẽ chưa nhìn thấy đầy đủ bản chất kinh tế của chính sách. Trong điều hành tài khóa hiện đại, thuế không chỉ có chức năng huy động nguồn lực cho ngân sách. Thuế còn là công cụ điều tiết chu kỳ kinh tế, phân bổ lại nguồn lực và tạo động lực cho sản xuất, đầu tư. Có những thời điểm, thu thêm một đồng cho ngân sách chưa chắc đã tối ưu bằng việc để một đồng đó lại cho khu vực sản xuất, kinh doanh tiếp tục quay vòng.
Đặc biệt với doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh, đồng vốn giữ lại thường không nằm yên. Nó có thể chuyển nhanh thành nguyên liệu, hàng hóa, tiền lương, tiền thuê mặt bằng, đầu tư thiết bị hoặc vốn lưu động. Khi khoản tiền ấy tiếp tục vận động trong nền kinh tế, nó tạo doanh thu cho chủ thể khác, việc làm cho người lao động và cuối cùng có thể quay trở lại ngân sách thông qua thuế GTGT, thuế thu nhập, các khoản đóng góp và nguồn thu phát sinh từ hoạt động kinh tế mở rộng.
Đây chính là điểm cần thay đổi trong cách đánh giá một chính sách giảm thuế: không chỉ tính khoản ngân sách giảm bao nhiêu trong năm đầu tiên, mà phải đo xem khoản giảm thu đó tạo ra thêm bao nhiêu hoạt động kinh tế trong những năm tiếp theo. Dư địa để thực hiện cách tiếp cận này hiện cũng thuận lợi hơn.
7 tháng năm 2026, tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 1.834,6 nghìn tỷ đồng, bằng 72,5% dự toán năm và tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Thu nội địa đạt khoảng 1.587,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 86,5% tổng thu.
Như vậy, quy mô giảm thu dự kiến 6.701 tỷ đồng trong 2 năm cần được đặt trong tổng thể khả năng tài khóa quốc gia. Điều quan trọng không chỉ là ngân sách “có chịu được hay không”, mà là mỗi đồng ưu đãi thuế có được sử dụng để tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn hay không.
Giảm thuế có mục tiêu khác với hỗ trợ dàn trải
Một điểm đáng chú ý của đề xuất lần này là phạm vi hỗ trợ được xác định khá rõ: hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng/năm. Đây là cách tiếp cận khác với giảm thuế đại trà. Một chính sách tài khóa tốt không nhất thiết phải hỗ trợ tất cả các chủ thể như nhau. Trong điều kiện nguồn lực ngân sách luôn có giới hạn, chính sách càng xác định được nhóm thực sự cần hỗ trợ thì hiệu quả sử dụng nguồn lực công càng cao.
Khu vực kinh doanh nhỏ có một đặc điểm rất đáng lưu ý: số lượng rất lớn nhưng “tấm đệm” tài chính thường mỏng. Một doanh nghiệp lớn có thể hấp thụ biến động về lãi suất, chi phí đầu vào hoặc đơn hàng trong một khoảng thời gian nhất định; còn với một cơ sở chỉ vài lao động, một cửa hàng hay doanh nghiệp siêu nhỏ, chỉ vài tháng dòng tiền suy giảm cũng có thể dẫn tới thu hẹp sản xuất hoặc rời thị trường.
Thực tế 7 tháng đầu năm 2026 phản ánh khá rõ 2 mặt này. Nền kinh tế duy trì động lực tích cực với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,1%; sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng khá; doanh nghiệp gia nhập thị trường tiếp tục gia tăng. Tuy nhiên, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức lớn; số liệu công bố của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy trong 7 tháng đầu năm 2026 có khoảng 155,3 nghìn doanh nghiệp rút lui (bao gồm: hơn 87.500 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn; hơn 36.600 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể; gần 31.200 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể). Điều đó cho thấy bài toán hiện nay không chỉ là tạo thêm doanh nghiệp mới mà còn phải nâng sức sống của doanh nghiệp đang hoạt động.
|
| Mục tiêu cuối cùng của chính sách giảm thuế là tạo điều kiện để khu vực kinh doanh nhỏ đủ sức lớn lên, chuyển đổi thành doanh nghiệp và trở thành người nộp thuế bền vững trong tương lai |
Vì vậy, giảm thuế không nên hiểu là “cứu” những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả. Vai trò của chính sách là giảm bớt một phần áp lực tài chính trong một giai đoạn xác định, để những cơ sở kinh doanh có thị trường, có năng lực nhưng thiếu dư địa tài chính có thêm điều kiện tồn tại, đầu tư và phát triển. Nếu thiết kế đúng, đây chính là chính sách tài khóa có mục tiêu với mức hỗ trợ không quá lớn đối với ngân sách nhưng được đưa tới nhóm có khả năng sử dụng dòng tiền bổ sung nhanh nhất.
Giá trị lớn hơn của chính sách nằm ở quá trình chính thức hóa nền kinh tế
Chính sách giảm thuế năm 2026-2027 còn cần được đặt trong một cuộc chuyển đổi lớn hơn: thay đổi phương thức quản lý khu vực hộ và cá nhân kinh doanh. Khi nền kinh tế chuyển mạnh sang hóa đơn điện tử, thanh toán số, kê khai dựa trên dữ liệu và quản lý thuế theo rủi ro, mức độ minh bạch sẽ tăng lên. Đây là xu hướng cần thiết để tạo môi trường kinh doanh bình đẳng. Nhưng cải cách chỉ bền vững khi lợi ích của minh bạch lớn hơn chi phí của minh bạch.
Nếu một hộ kinh doanh cảm nhận rằng khi kê khai đầy đủ hơn, sử dụng hóa đơn, thực hiện kế toán và bước vào khu vực chính thức thì chỉ có nghĩa vụ tăng lên, tâm lý dè dặt là điều dễ hiểu. Ngược lại, nếu quá trình chính thức hóa đồng thời giúp họ được hưởng thủ tục đơn giản hơn, tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn, giảm một phần thuế và có môi trường kinh doanh ổn định hơn, hành vi kinh tế sẽ thay đổi. Ở góc độ này, giảm thuế có thể mang lại giá trị lớn hơn chính số tiền thuế được giảm.
Mục tiêu cuối cùng không phải tạo ra một khu vực kinh doanh nhỏ được hưởng ưu đãi lâu dài, mà tạo điều kiện để khu vực này đủ sức lớn lên, chuyển đổi thành doanh nghiệp và trở thành người nộp thuế bền vững trong tương lai. Đó là nguyên lý rất cơ bản của “nuôi dưỡng nguồn thu”: muốn ngân sách bền vững thì trước hết cơ sở tạo ra nguồn thu phải bền vững.
Không để ngưỡng 10 tỷ đồng trở thành “điểm gãy” của chính sách
Điều lưu ý là điểm cần được nghiên cứu kỹ nhất trước khi Nghị quyết về giảm thuế được thông qua nằm ở chính khoảng chênh lệch của ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng. Theo đề xuất của Chính phủ, một hộ, cá nhân kinh doanh hoặc doanh nghiệp có mức doanh thu hàng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng thì được hưởng mức giảm 30% số thuế phải nộp, nhưng chỉ cần vượt ngưỡng này lại mất toàn bộ ưu đãi. Như vậy sẽ xuất hiện một khoảng chênh khá lớn về quyền lợi. Vì vậy, cần nghiên cứu cơ chế chuyển tiếp hợp lý thay vì để ưu đãi mất hoàn toàn khi vượt ngưỡng.
Đây không phải vấn đề kỹ thuật nhỏ. Trong kinh tế học thuế, bất kỳ ngưỡng cứng nào tạo ra chênh lệch nghĩa vụ đáng kể đều có thể làm biến dạng hành vi. Doanh nghiệp đứng sát ngưỡng có thể trì hoãn ghi nhận doanh thu, chia nhỏ hoạt động, chuyển doanh thu sang chủ thể khác, thậm chí không muốn nhận thêm đơn hàng nếu lợi ích của tăng doanh thu thấp hơn phần ưu đãi bị mất. Nếu điều đó xảy ra, một chính sách được thiết kế để khuyến khích doanh nghiệp phát triển lại vô tình tạo ra động cơ không muốn lớn lên.
Vì vậy, khi hoàn thiện Nghị quyết và văn bản hướng dẫn, nên nghiên cứu cơ chế chuyển tiếp theo hướng giảm dần mức ưu đãi khi doanh thu vượt ngưỡng trong một khoảng nhất định, thay cho nguyên tắc “được toàn bộ – mất toàn bộ”. Cách thiết kế cụ thể phải được tính toán kỹ trên cơ sở dữ liệu người nộp thuế, khả năng quản lý và tác động ngân sách, nhưng nguyên tắc cần bảo đảm là: Một đồng doanh thu tăng thêm không được làm cho tổng lợi ích sau thuế của doanh nghiệp giảm xuống.
Đồng thời, dữ liệu hóa đơn điện tử, mã số thuế, tài khoản thanh toán và thông tin về các bên có quan hệ liên kết cần được khai thác để ngăn hành vi chia nhỏ doanh thu nhằm hưởng ưu đãi. Chính sách phải đủ thuận lợi để người tuân thủ dễ tiếp cận, nhưng cũng phải đủ chặt chẽ để người cố tình lợi dụng không thể hưởng lợi.
Cần đo hiệu quả chính sách bằng “đầu ra”, không chỉ bằng số tiền giảm thu
Một điểm nữa cần thay đổi là phương pháp đánh giá sau khi chính sách được thực hiện. Với một chính sách giảm thuế quy mô khoảng 6.701 tỷ đồng, sau năm 2027 không nên chỉ tổng kết theo cách: có bao nhiêu người được hưởng, ngân sách đã giảm bao nhiêu.
Cần trả lời những câu hỏi khó hơn: Số doanh nghiệp được hỗ trợ còn hoạt động sau hai hoặc ba năm là bao nhiêu; doanh thu, việc làm, đầu tư của họ thay đổi thế nào; bao nhiêu hộ kinh doanh chuyển lên doanh nghiệp; mức độ sử dụng hóa đơn điện tử và kê khai chính thức có tăng không; cơ sở thu thuế sau khi chính sách hết hiệu lực rộng lên hay thu hẹp lại? Nói cách khác, cần coi khoản giảm thuế này như một khoản chi tiêu thuế – tax expenditure và đánh giá hiệu quả gần giống một chương trình sử dụng ngân sách.
|
| Cần đo hiệu quả chính sách bằng “đầu ra” chứ không chỉ bằng số tiền giảm thu. |
Có thể tập trung theo dõi 4 yếu tố kết quả: (i) Tỷ lệ tồn tại và phát triển của doanh nghiệp; (ii) Số việc làm được duy trì hoặc tạo mới; (iii)Mức tăng doanh thu, đầu tư; và (iv)Mức mở rộng cơ sở người nộp thuế sau khi ưu đãi kết thúc. Nếu 6.701 tỷ đồng giảm thu giúp hình thành thêm hàng chục nghìn cơ sở kinh doanh chính thức, tạo thêm việc làm và mở rộng cơ sở thuế những năm sau, đó là chính sách tài khóa hiệu quả.
Ngược lại, nếu ưu đãi chủ yếu chuyển thành lợi ích ngắn hạn mà không cải thiện năng lực sản xuất, không mở rộng cơ sở thu, chính sách cần được điều chỉnh. Cách đánh giá như vậy cũng tạo một bước tiến trong quản trị tài khóa: chuyển từ tư duy “ban hành ưu đãi” sang “quản trị hiệu quả của ưu đãi”.
Giảm thuế hôm nay phải tạo ra người nộp thuế lớn hơn ngày mai
Đề xuất giảm 30% số thuế TNCN và TNDN phải nộp trong 2 năm 2026-2027 cần được nhìn nhận đúng tầm của nó. Đây không chỉ là câu chuyện giảm vài nghìn tỷ đồng tiền thuế, càng không đơn thuần là sự chia sẻ khó khăn giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Đây là lựa chọn chính sách về cách sử dụng nguồn lực tài khóa trong một giai đoạn Việt Nam cần đồng thời thực hiện 3 yêu cầu: duy trì ổn định kinh tế vĩ mô; thúc đẩy tăng trưởng cao và mở rộng khu vực kinh tế chính thức.
Thu ngân sách bền vững không thể chỉ dựa vào việc liên tục nâng nghĩa vụ trên một cơ sở thu hẹp. Nó phải dựa trên một nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp hơn, doanh nghiệp tồn tại lâu hơn, lớn nhanh hơn, minh bạch hơn và tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn. Bởi vậy, điều quan trọng nhất của Nghị quyết không phải là “giảm được bao nhiêu thuế”, mà là sau 2 năm thực hiện, Việt Nam có tạo ra được một khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ khỏe hơn hay không.
Nếu chính sách được thiết kế đúng đối tượng, thủ tục đơn giản, có cơ chế chuyển tiếp hợp lý quanh ngưỡng 10 tỷ đồng và được đánh giá bằng kết quả kinh tế thực chất, khoản giảm thu trước mắt hoàn toàn có thể trở thành một khoản đầu tư cho nguồn thu tương lai.
Khi đó, một chính sách thuế tốt không phải là chính sách thu được nhiều nhất ở thời điểm hiện tại, mà là tạo ra được nhiều người nộp thuế khỏe mạnh hơn, lớn hơn và bền vững hơn trong tương lai.





