Tin mới
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Cổ phần hóa, thoái vốn: Khơi thông nguồn lực cho chu kỳ tăng trưởng mới

Với mục tiêu tăng trưởng bình quân trên 10% giai đoạn 2026–2030 và tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP, bài toán nguồn lực đang được đặt ở quy mô mới. Trong bối cảnh đó, cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước góp phần sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp, mở thêm dư địa khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng.

Cổ phần hóa, thoái vốn: Khơi thông nguồn lực cho chu kỳ tăng trưởng mới
Cổ phần hóa, thoái vốn gắn với quá trình tái phân bổ nguồn lực cho tăng trưởng. Thiết kế bởi AI.

Tăng trưởng trên 10%, bài toán vốn cũng phải ở tầm mới

Cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp Nhà nước đang được đặt trong một bối cảnh mới khi Việt Nam bước vào giai đoạn 2026–2030 với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10% mỗi năm, GDP bình quân đầu người hướng tới 8.500 USD, kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP và tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP. Những mục tiêu này không chỉ đòi hỏi tốc độ tăng trưởng cao hơn, mà còn kéo theo nhu cầu lớn hơn về đầu tư và tích lũy tài sản.

Nhìn từ các cấu phần của GDP, tích lũy tài sản, tiêu dùng cuối cùng và chênh lệch xuất nhập khẩu là ba động lực chính. Trong đó, tích lũy tài sản bao gồm đầu tư của khu vực Nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khi nhu cầu đầu tư được đặt ở quy mô lớn hơn, khả năng huy động vốn phải đi cùng yêu cầu phân bổ và sử dụng vốn hiệu quả hơn.

Đây là điểm cần đặt câu chuyện cổ phần hóa, thoái vốn vào đúng vị trí. Nếu chỉ nhìn cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần, hoặc thoái vốn là việc Nhà nước giảm tỷ lệ sở hữu, sẽ chưa phản ánh hết ý nghĩa của quá trình này trong chu kỳ tăng trưởng mới.

Ở góc độ rộng hơn, cổ phần hóa và thoái vốn là một phần của quá trình cơ cấu lại nguồn lực: Nhà nước tập trung vốn vào những lĩnh vực cần thiết, đồng thời mở thêm không gian để các nguồn lực khác tham gia vào những khu vực có khả năng tạo giá trị.

Với mục tiêu tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP, vấn đề vì thế không chỉ là có thêm bao nhiêu vốn, mà còn là nguồn vốn được đưa vào đâu và tạo ra hiệu quả như thế nào. Đây cũng là cơ sở để nhìn cổ phần hóa, thoái vốn không chỉ dưới góc độ sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp Nhà nước, mà trong mối liên hệ với bài toán huy động và phân bổ nguồn lực cho tăng trưởng.

Cổ phần hóa chuyển trọng tâm, vốn Nhà nước cần được cơ cấu lại

Nhìn lại quá trình từ năm 1986 đến 2025, cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp Nhà nước đã đi qua nhiều giai đoạn, từ thí điểm, đẩy mạnh cổ phần hóa đến tái cơ cấu. Quy mô khu vực doanh nghiệp Nhà nước cũng thay đổi mạnh. Số doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước giảm từ 5.655 doanh nghiệp năm 2001 xuống còn 459 doanh nghiệp năm 2021, tức giảm hơn 12 lần trong 20 năm.

Số doanh nghiệp được cổ phần hóa cũng giảm dần: 2.735 doanh nghiệp giai đoạn 2001–2005; 646 giai đoạn 2006–2010; 508 giai đoạn 2011–2015; 180 giai đoạn 2016–2020 và 5 doanh nghiệp giai đoạn 2021–2024 trong chuỗi số liệu BSC.

Diễn biến này cho thấy cổ phần hóa hiện nay không còn đơn thuần là câu chuyện về số lượng doanh nghiệp được chuyển đổi. Khi quy mô khu vực doanh nghiệp Nhà nước đã thay đổi sâu sắc, trọng tâm giai đoạn mới nằm ở chất lượng vốn, hiệu quả hoạt động và xác định những lĩnh vực Nhà nước cần tập trung nguồn lực.

Định hướng đó được thể hiện trong Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, với yêu cầu vốn Nhà nước phải vận động, sinh lời và tạo ra giá trị mới; doanh nghiệp Nhà nước tập trung vào những ngành, lĩnh vực trọng điểm, chiến lược, đồng thời tiếp tục cơ cấu lại vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.

Từ góc nhìn này, thoái vốn không chỉ nhằm giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước. Quan trọng hơn là cách phân bổ nguồn lực sau thoái vốn, tạo thêm dư địa cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh hoặc tập trung vào những lĩnh vực Nhà nước xác định có vai trò chiến lược.

Định hướng này được cụ thể hóa trong khung pháp lý mới. Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg ngày 05/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn Nhà nước tại doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước, qua đó phân định nhóm doanh nghiệp tiếp tục được Nhà nước nắm giữ và nhóm thuộc diện cơ cấu lại vốn.

Cùng với đó, Luật số 68/2025/QH15 của Quốc hội về Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Nghị định số 57/2026/NĐ-CP của Chính phủ về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp quy định về định giá, xử lý tài sản, phương thức bán cổ phần và trách nhiệm của người đại diện vốn. Nghị định số 57/2026/NĐ-CP đồng thời quy định xử lý đất đai khi cổ phần hóa, xác định giá trị quyền thuê đất, tài sản chờ thanh lý và nợ khó đòi; giữ thời hạn 90 ngày đối với đăng ký công ty đại chúng và đăng ký giao dịch hoặc niêm yết, gắn với trách nhiệm của người đại diện vốn. Vì thế, câu chuyện của giai đoạn mới không còn nằm ở số doanh nghiệp được cổ phần hóa, mà ở cách vốn Nhà nước được cơ cấu và sử dụng.

Nguồn lực mới cần một cách phân bổ mới

Nhìn lại chặng đường từ 1986 đến 2025, điều đáng chú ý không nằm ở việc đã trải qua bao nhiêu năm, mà ở sự thay đổi của chính khu vực được cơ cấu lại. Từ một khu vực doanh nghiệp Nhà nước có quy mô rất lớn về số lượng, quá trình cổ phần hóa đã đưa số doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước giảm mạnh. Đồng thời, tiêu chí phân loại doanh nghiệp Nhà nước qua các giai đoạn ngày càng xác định rõ hơn những lĩnh vực Nhà nước cần nắm giữ ở mức cao, từ quốc phòng, an ninh, năng lượng, hạ tầng thiết yếu đến các lĩnh vực tài chính – tiền tệ đặc thù và những ngành có vai trò chiến lược.

Vì vậy, dư địa của giai đoạn mới không nên được đo đơn giản bằng câu hỏi “còn bao nhiêu doanh nghiệp để cổ phần hóa”. Câu hỏi quan trọng hơn là phần vốn Nhà nước còn lại đang nằm ở đâu, có thể được cơ cấu như thế nào và làm sao để mỗi đồng vốn được sử dụng đúng với vai trò của nó trong nền kinh tế.

Đây cũng là nơi thị trường vốn, trong đó có thị trường chứng khoán, có thể phát huy vai trò. Cổ phần hóa tạo ra cấu trúc sở hữu mới; thoái vốn tạo điều kiện dịch chuyển phần vốn Nhà nước; còn thị trường chứng khoán cung cấp cơ chế để cổ phần được giao dịch, định giá và tiếp cận rộng hơn với nguồn vốn xã hội.

Nhưng ý nghĩa của quá trình này không nằm ở việc tạo ra thêm bao nhiêu mã cổ phiếu. Giá trị lớn hơn là khả năng biến nguồn lực được cơ cấu lại thành vốn cho đầu tư và tăng trưởng, đồng thời nâng hiệu quả sử dụng vốn trong toàn nền kinh tế.

Khi mục tiêu tăng trưởng bình quân trên 10% và tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP được đặt ra cho giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đối với nguồn lực vì thế cũng thay đổi. Không chỉ cần huy động nhiều hơn, nền kinh tế còn cần một cơ chế phân bổ vốn hiệu quả hơn, trong đó vốn Nhà nước được tập trung vào những nơi cần thiết và phần nguồn lực có thể cơ cấu lại được đưa vào những khu vực tạo thêm giá trị.

Từ những bước thí điểm cổ phần hóa đến quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước hiện nay, điều thay đổi không chỉ là số lượng doanh nghiệp, mà còn là cách nhìn về vai trò của vốn Nhà nước. Trong chu kỳ tăng trưởng mới, cổ phần hóa và thoái vốn vì thế có thể được nhìn như một phần của bài toán khơi thông, vận động và nâng hiệu quả nguồn lực cho nền kinh tế.

Khánh Hạ
Thích

Các tin khác

Video

Tin nổi bật