TS.Nguyễn Thị Hải Hà
Phó Vụ trưởng Vụ Ngân sách nhà nước (Bộ Tài chính)
Email: [email protected]
TS.Hà Thị Phương Thảo
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (Bộ Tài chính)
Email: [email protected]
Đinh Thị Hải Phong
Học viện Tài chính
Email: [email protected]
ĐIỂM SÁNG TRONG CƠ CẤU LẠI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC, QUẢN LÝ NỢ CÔNG GIAI ĐOẠN 2021-2025
Thu ngân sách nhà nước hỗ trợ tích cực phục hồi kinh tế, chuyển dịch theo hướng bền vững hơn
Tổng thu NSNN cả giai đoạn 2021 - 2025 đạt gần 9,9 triệu tỷ đồng, tỷ lệ huy động bình quân vào NSNN đạt trên 18%/GDP (vượt mục tiêu đặt ra, là trên 16% GDP); thu nội địa bình quân chiếm gần 84% tổng thu NSNN. Trong hầu hết các năm, số thu thực hiện đều vượt dự toán, thể hiện tính thận trọng ở khâu dự toán, để chủ động trong quá trình điều hành trước diễn biến bất thường của thiên tai, dịch bệnh, căng thẳng địa chính trị, thương mại và leo thang vũ trang trên thế giới. Số tăng thu NSNN hằng năm tiếp tục được tập trung phân bổ cho các ưu tiên về đầu tư phát triển, tạo nguồn cải cách tiền lương, an sinh xã hội và các nhiệm vụ quan trọng quốc gia, cùng dự toán đầu năm đã góp phần thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ chi NSNN, phục hồi kinh tế.
Bên cạnh đó, cơ cấu thu theo sắc thuế cũng dịch chuyển tích cực. Trong đó, thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là có tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định và ấn tượng. Năm 2021, thu từ thuế TNCN đạt khoảng 110 nghìn tỷ đồng; đến năm 2023 tăng lên hơn 154 nghìn tỷ đồng và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao trong các năm sau, bình quân giai đoạn 2021-2025 tăng trên 13%/năm. Kết quả này gắn với sự phục hồi của thị trường lao động sau đại dịch COVID-19, sự gia tăng thu nhập cá nhân, cũng như sự sôi động của thị trường chứng khoán và bất động sản trong một số thời điểm. Đáng chú ý, việc tăng cường quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh trên nền tảng số và hoạt động thương mại điện tử đã mở rộng đáng kể cơ sở thu, khai thác hiệu quả dư địa từ kinh tế số. So với các sắc thuế phụ thuộc vào thương mại quốc tế, thuế TNCN thể hiện mức độ ổn định cao hơn và ít chịu tác động trực tiếp từ các cú sốc bên ngoài.
Ngược lại, thu từ hoạt động XNK và dầu thô có xu hướng biến động mạnh do phụ thuộc vào tình hình thế giới. Tỷ trọng 02 khoản thu này trong tổng thu NSNN có xu hướng giảm (bình quân giai đoạn 2021- 2025 còn khoảng 16% tổng thu NSNN, so với mức 17,5% giai đoạn 20216-2020 và 30% giai đoạn 2011- 2015) chủ yếu xuất phát từ việc Việt Nam thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan sâu rộng theo các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: CPTPP, EVFTA và RCEP. Diễn biến này phù hợp với xu thế hội nhập sâu rộng, song đồng thời đặt ra yêu cầu tái cơ cấu nguồn thu theo hướng tăng tỷ trọng các khoản thu nội địa bền vững hơn.
Thuế GTGT tiếp tục là sắc thuế chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thu nội địa và được quản lý linh hoạt để hỗ trợ nền kinh tế (đã thực hiện giảm thuế suất GTGT từ năm 2021 khi đại dịch COVID-19 bùng phát tác động tới nền kinh tế nước ta), tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và qua đó nuôi dưỡng nguồn thu bền vững trong dài hạn. Đây là minh chứng cho cách tiếp cận điều hành thu NSNN theo hướng linh hoạt, cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm nguồn lực tài khóa.
Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), xu hướng điều chỉnh chính sách thể hiện rõ định hướng quản lý tiêu dùng và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Luật Thuế TTĐB năm 2025 đã quy định lộ trình tăng thuế đối với các mặt hàng không khuyến khích tiêu dùng như rượu, bia, thuốc lá; đồng thời mở rộng đối tượng chịu thuế, như đồ uống có hàm lượng đường trên 5g/100ml từ năm 2027. Sự điều chỉnh này không chỉ nhằm tăng cường nguồn thu ngân sách mà còn phù hợp với mục tiêu định hướng tiêu dùng và phát triển bền vững.
Về tổng thể, việc quản lý, cơ cấu lại thu NSNN giai đoạn 2021-2025 đã hỗ trợ hiệu quả, kịp thời để phục hồi kinh tế; đồng thời vẫn bám sát các mục tiêu chiến lược của cải cách hệ thống thuế, theo hướng bao quát nguồn thu, điều tiết thu nhập, điều tiết tiêu dùng, sử dụng hiệu quả các nguồn lực quốc gia, đảm bảo nguồn thu cho NSNN và hướng tới phát triển bền vững. Đây là tiền đề quan trọng để xây dựng nền tài chính công ổn định, bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

Cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước: Ưu tiên nguồn lực cho động lực tăng trưởng, đảm bảo công bằng xã hội
Ngay đầu nhiệm kỳ, trước tác động nghiêm trọng của đại dịch COVID-19, Chính phủ đã cơ cấu lại chi NSNN, lùi triển khai một số nhiệm vụ (như cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW Hội nghị Trung ương 7, khóa XII), ưu tiên cao nhất cho phòng chống dịch bệnh, đảm bảo an sinh xã hội và đầu tư phát triển. Trong đó, chi NSNN cho phòng chống đại dịch COVID-19 ngay khi dịch phát sinh năm 2020 lên tới trên 27 nghìn tỷ đồng, năm 2021 lên tới trên 128 nghìn tỷ đồng và năm 2022 trên 51 nghìn tỷ đồng; chi đầu tư thực hiện Chương trình phục hồi KT-XH là 176 nghìn tỷ đồng... Nhờ đó Việt Nam đã trở thành điểm sáng trên thế giới trong công tác ứng phó với đại dịch COVID-19, duy trì tăng trưởng kinh tế dương năm 2021 và phục hồi đáng kể vào các năm sau.
Ngay khi kiểm soát được đại dịch COVID-19, năm 2023, 2024 mức chi trợ giúp xã hội, chi hỗ trợ ưu đãi người có công tiền lương, đã được điều chỉnh theo hướng tăng với mức cao nhất từ trước tới nay. Tính chung cả giai đoạn 2021-2025, chi trợ giúp xã hội tăng gần 85%, chi trợ giúp ưu đãi người có công tăng trên 70% và tiền lương cơ sở khu vực công tăng trên 57%, ngoài ra còn thực hiện chế độ thưởng cán bộ, công chức theo Nghị quyết số 27-NQ/TW.
Đặc biệt, trong bối cảnh thu NSNN không thuận và được dự toán rất thận trọng, dự toán chi đầu tư phát triển được ưu tiên đảm bảo theo đúng kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được phê duyệt, cộng với bố trí từ nguồn tăng thu, Chương trình phục hồi KT-XH đã góp phần xử lý các nút thắt về hạ tầng giao thông, các vấn đề về môi trường, biến đổi khí hậu, đồng thời, hỗ trợ tích cực tổng cầu nền kinh tế trong bối cảnh đầu tư tư nhân và tiêu dùng sụt giảm, góp phần quan trọng vào phục hồi kinh tế.
Cuối giai đoạn 2021 - 2025, với các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về sắp xếp bộ máy, thực hiện phát triển đột phá về khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST), chuyển đổi số (CĐS), pháp luật… đã ưu tiên nguồn NSNN để đảm bảo đủ mức 3% tổng chi NSNN cho KHCN, ĐMST, CĐS, cũng như mức 0,5% tổng chi NSNN cho công tác xây dựng pháp luật từ năm 2025.
Tính chung cả giai đoạn 2021-2025, đã tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển lên mức bình quân trên 33% tổng chi NSNN (so với mục tiêu là 29%); giảm tỷ trọng chi thường xuyên xuống 60% tổng chi NSNN (so với mục tiêu là 62-63%, phấn đấu 60%), vượt các mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 23/2021/QH15.
Quản lý nợ công: Kiểm soát rủi ro và tối ưu hóa danh mục
Trong những năm gần đây, Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những điển hình thành công về kiểm soát và kéo giảm nợ công trong điều kiện vẫn duy trì tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô. Nếu như năm 2016, tỷ lệ nợ công đã tiệm cận ngưỡng trần cho phép với mức 63,7% GDP, thì đến cuối năm 2025, tỷ lệ này ước tính chỉ còn khoảng 34% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức trần 60% do Quốc hội quy định. Tỷ lệ nợ Chính phủ/GDP duy trì ở khoảng 32% (so với trần 50%), trong khi nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ được kiểm soát trong ngưỡng 25% tổng thu NSNN. Đây là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng, phản ánh khả năng thanh khoản và sức chịu đựng của ngân sách trước áp lực trả nợ, qua đó bảo đảm tính chủ động của NSNN, mức độ an toàn tài chính quốc gia trong trung hạn.
Không chỉ cải thiện về quy mô, cơ cấu danh mục nợ cũng có bước chuyển biến căn bản theo hướng bền vững hơn, tỷ trọng huy động nợ trong nước bình quân chiếm trên 90% cho thấy, mức độ tự chủ nguồn vốn được củng cố rõ rệt. Trái phiếu chính phủ (TPCP) đã trở thành kênh huy động vốn chủ đạo, thay thế dần sự phụ thuộc vào nguồn vay ưu đãi nước ngoài. Kỳ hạn phát hành bình quân TPCP khoảng 12 năm, qua đó kéo dài thời gian đáo hạn danh mục nợ và giảm áp lực đảo nợ trong ngắn hạn. Mặt bằng lãi suất phát hành duy trì ở mức hợp lý, thấp hơn tương đối so với nhiều quốc gia có cùng mức xếp hạng tín nhiệm, nhờ nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát dưới 4,5%.
Kết quả này là rất tích cực trong bối cảnh hầu hết các nước trên thế giới có xu hướng bùng phát nợ công. Tại Thái Lan, nhằm ứng phó với suy giảm tăng trưởng, Chính phủ nước này đã phải điều chỉnh trần nợ công từ 60% lên 70% GDP. Mặc dù, mức nợ vẫn trong tầm kiểm soát, song dư địa tài khóa cho các gói kích thích trong tương lai đã bị thu hẹp đáng kể. Trong khi đó, Malaysia vẫn đang chịu tác động từ các nghĩa vụ nợ phát sinh trong quá khứ, bao gồm các khoản bảo lãnh chính phủ, khiến tỷ trọng chi trả lãi vay trong ngân sách ở mức cao và làm giảm nguồn lực dành cho đầu tư phát triển.
Với việc quản lý, giảm mạnh tỷ lệ nợ công xuống còn khoảng 34% GDP, Việt Nam hiện được xem là một trong những quốc gia có “dư địa tài khóa” tương đối lớn trong khu vực. Trong điều kiện nhiều yếu tố bất định, phi truyền thống phát sinh hiện nay, đây là một điểm cộng, cho phép Việt Nam linh hoạt, chủ động hơn trong ứng phó với các cú sốc trong và ngoài nước.
Một trong những yếu tố cốt lõi giúp Việt Nam tránh được nguy cơ “bẫy nợ” chính là sự thay đổi về bản chất danh mục nợ theo hướng tăng cường tự chủ và quản trị rủi ro chủ động. Trước đây, Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào nguồn vốn ODA với điều kiện ưu đãi; tuy nhiên, khi đã “tốt nghiệp IDA” (dừng nhận các khoản vay ưu đãi từ Hiệp hội phát triển quốc gia thuộc Ngân hàng Thế giới), quy mô và mức độ ưu đãi của nguồn vốn này giảm dần. Thay vì gia tăng vay thương mại nước ngoài, Việt Nam đã chủ động phát triển thị trường TPCP trong nước, huy động vốn bằng đồng nội tệ. Việc vay bằng VND giúp Chính phủ hạn chế “rủi ro kép” - vừa chịu áp lực lãi suất, vừa chịu rủi ro tỷ giá khi đồng USD tăng giá.
Bên cạnh đó, chiến lược kéo dài kỳ hạn danh mục nợ đã phát huy hiệu quả rõ rệt. Điều này góp phần phân bổ nghĩa vụ trả nợ ra nhiều năm, tránh hình thành các “đỉnh nợ” tập trung vào một số năm nhất định, qua đó giảm áp lực lên cân đối NSNN hàng năm và tăng cường tính bền vững của tài chính công trong dài hạn.
Tóm lại, mặc dù trong điều kiện thách thức, khó khăn nhiều hơn nhưng Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định trong việc cơ cấu lại toàn diện thu, chi NSNN, nợ công; đáp ứng kịp thời yêu cầu phát sinh đột xuất, với quy mô rất lớn trong phòng chống dịch COVID-19, đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ tích cực cho phục hồi kinh tế, ổn định vĩ mô; đảm bảo nguồn thu NSNN để tập trung thực hiện các nhiệm vụ chính trị quan trọng của đất nước, thực hiện hoàn thành hầu hết các mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời tạo nền tảng tiền đề để tiếp tục bước vào giai đoạn 2026-2030, giai đoạn bứt phá tăng trưởng kinh tế 2 chữ số để đưa đất nước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên giàu mạnh của dân tộc. Quy mô thu NSNN năm 2025 đã được mở rộng, tăng gấp 1,7 lần so với năm 2021; tỷ trọng thu nội địa năm 2025 đã lên mức 86% thay dần cho các nguồn thu từ XNK, dầu thô; đã phát triển các sắc thuế theo hướng bao quát nguồn thu, hiện đại, điều tiết thu nhập hợp lý và khuyến khích, sử dụng tài nguyên, tiêu dùng bền vững. Bên cạnh đó, quy mô và cơ cấu chi NSNN đã và đang bám sát các yêu cầu, chủ trương lớn của Đảng, ưu tiên đầu tư phát triển, tăng tỷ trọng chi đầu tư NSNN lên mức rất cao, đảm bảo các tỷ lệ chi NSNN để phát triển đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, đào tạo, tăng chi an ninh xã hội đảm bảo tiến bộ công bằng…
VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NỀN TÀI CHÍNH QUỐC GIA
Mặc dù, công tác cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn một số hạn chế nhất định. Giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục là “điểm nghẽn” kéo dài qua nhiều năm. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, sự chồng chéo của thủ tục hành chính và năng lực chuẩn bị, tổ chức thực hiện dự án ở một số bộ, ngành, địa phương còn hạn chế. Tình trạng này không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn mà còn ảnh hưởng đến vai trò dẫn dắt của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế. Việc mở rộng phạm vi quy định cứng tỷ lệ chi theo ngành, lĩnh vực có ưu điểm là xác định cụ thể được quy mô kinh phí cho ngành, lĩnh vực, nhưng làm hạn chế tính chủ động trong quản lý, điều hành NSNN. Bên cạnh đó, còn trùng lặp về chương trình, nhiệm vụ, chính sách chi ngân sách. Hiệu quả, hiệu lực chi tiêu công chưa cao. Áp lực chi NSNN lớn, không chỉ nhằm phát triển kết cấu hạ tầng KT-XH, phát triển hệ thống an sinh xã hội đa tầng, mà còn gắn với xu hướng già hóa dân số, yêu cầu chuyển đổi xanh và thực hiện các cam kết giảm phát thải làm tăng nhu cầu đầu tư công cho hạ tầng năng lượng, giao thông và công nghệ sạch…
Về phía nguồn thu, thu nội địa tăng mạnh một phần nhờ tăng thu tiền sử dụng đất, nhưng đây là nguồn thu phân bổ không đồng đều giữa các địa phương và không có khả năng tái tạo; chưa cải cách được hệ thống chính sách thu, hệ thống chính sách thu chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn về phát triển của kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, đặc biệt, chưa cải thiện được tỷ trọng thu ngân sách Trung ương.
Bội chi, nợ công được kiểm soát chặt chẽ, kỳ hạn nợ được kéo dài. Tuy nhiên, giải ngân nguồn vốn ngoài nước thấp hơn nhiều so với kế hoạch; các quy định về kỳ hạn, thời điểm tổ chức huy động có ưu điểm là kéo dài kỳ hạn nợ bình quân, gắn chặt với thực hiện giải ngân vốn, nhưng chưa hỗ trợ việc phát triển đồng bộ thị trường vốn, đường cong lãi suất (thiếu công cụ ngắn hạn), tổ chức huy động nhiều thời điểm khó thực hiện; nghĩa vụ nợ tiềm ẩn từ khu vực doanh nghiệp nhà nước, các khoản bảo lãnh Chính phủ vẫn là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến tính bền vững của tài chính công nếu không được giám sát và kiểm soát chặt chẽ.
Trong khi đó, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 02 con số giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi phải đồng bộ với phát triển mạnh cả về quy mô và chất lượng, hiệu quả quản lý, sử dụng NSNN. Hệ thống chính sách thu NSNN phải góp phần tạo môi trường kinh tế cạnh tranh, thuận tiện, tạo động cơ, động lực để khơi thông mọi nguồn lực trong nền kinh tế cho đầu tư phát triển theo chiều sâu, đặt trọng tâm vào giá trị tăng thêm. Hệ thống chi NSNN phải dẫn dắt, định hướng các thành phần kinh tế và tập trung vào các khu vực, lĩnh vực, chương trình, dự án thiết yếu cho nền kinh tế mà các thành phần kinh tế khác thực hiện không hiệu quả hoặc không thực hiện và cần được phân bổ, sử dụng tối ưu để tổng lực bứt phá tăng trưởng kinh tế, quay trở lại làm nền tảng tăng quy mô huy động thu NSNN đáp ứng các yêu cầu chi rất lớn gắn với mục tiêu tăng trưởng, cũng như trả nợ vay của NSNN. Việc vay nợ cho NSNN chỉ sử dụng để chi đầu tư và cần được đa dạng hóa để không lấn át hoặc làm tăng chi phí vốn của nền kinh tế… nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã “tốt nghiệp IDA”.
Trong bối cảnh thị trường quốc tế biến động phức tạp, rủi ro tỷ giá cũng là yếu tố cần được tính đến, nhất là đối với các khoản vay bằng ngoại tệ như: USD, Yên Nhật và Euro. Sự biến động mạnh của đồng USD trong thời gian qua cho thấy nghĩa vụ trả nợ bằng ngoại tệ có thể gia tăng đáng kể khi quy đổi sang nội tệ, qua đó tác động đến an toàn nợ công và ổn định tài khóa.
Những vấn đề nêu trên cho thấy, yêu cầu cấp thiết của việc tiếp tục cơ cấu lại thu, chi NSNN, nợ công, không chỉ xử lý các tồn tại, hạn chế hiện nay, hỗ trợ cao nhất việc thực hiện mục tiêu phát triển đất nước, mà còn tăng tính tự chủ, chủ động và khả năng chống chịu của nền tài chính quốc gia, nhất là trong bối cảnh thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, theo chiều hướng không thuận là chủ yếu.
KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH TRONG GIAI ĐOẠN TỚI
Trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng số hóa và phát triển bền vững, yêu cầu cải cách chính sách tài khóa đặt ra ngày càng cấp thiết. Để tiếp tục thực hiện cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, cần chú trọng các giải pháp sau:
Thứ nhất, thực hiện đồng bộ việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt, tạo lập môi trường thuận lợi, công bằng, minh bạch cho các khu vực kinh tế chủ động đầu tư kinh doanh; hợp tác công tư nhằm phát triển kết cấu hạ tầng KT-XH với yêu cầu phân bổ, sử dụng tối ưu các nguồn lực hạn chế của nền kinh tế, trong đó NSNN là một cấu phần, để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước. Đổi mới quản lý, điều hành NSNN đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, đặt trong tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế và gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới. Phân định rõ vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực ngân sách.
Thứ hai, đối với thu NSNN, đẩy mạnh cải cách hệ thống thuế theo hướng mở rộng cơ sở thuế, bao quát hiệu quả các hoạt động của kinh tế số, kinh tế nền tảng và kinh tế xanh, nghiên cứu và xây dựng lộ trình phù hợp để triển khai các loại thuế mới liên quan đến tài sản, mức phát thải carbon... Hạn chế tối đa việc lồng ghép các chính sách xã hội trong chính sách thu, đảm bảo tính minh bạch, trung lập của hệ thống thuế. Tập trung triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia. Hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả quản lý thu, chống thất thu, giảm chi phí tuân thủ và tăng tính minh bạch của hệ thống thu. Đồng thời, khẩn trương triển khai Kết luận số 93-KL/TW của Bộ Chính trị tập trung đổi mới, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý NSNN, nhằm tăng cường tính chủ động, tự chủ của địa phương, đồng thời bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương.
Thứ ba, về chi NSNN, tập trung nâng cao hiệu quả quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn lực công cho các ưu tiên chiến lược của nền kinh tế khi quy mô chi NSNN tăng rất mạnh theo yêu cầu tăng trưởng kinh tế 02 chữ số; hạn chế tối đa việc quy định cụ thể tỉ lệ chi NSNN cho từng ngành, lĩnh vực, đối tượng nhằm bảo đảm tính linh hoạt, hiệu quả trong phân bổ, bố trí nguồn NSNN, phù hợp với các ưu tiên chính sách trong từng năm, từng giai đoạn cụ thể; thực hiện theo dõi, đánh giá, điều chỉnh kịp thời để không bị đọng vốn, từng nhiệm vụ chi phải gắn với mục tiêu kết quả cụ thể, tăng cường trách nhiệm trong chi tiêu ngân sách; quán triệt các chủ trương của Đảng, Nhà nước trong phân bổ nguồn vốn đầu tư công, tập trung đầu tư các công trình hạ tầng chiến lược, kết nối liên vùng, khu vực và quốc tế, các dự án có tính chất xoay chuyển tình thế, đột phá về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh…
Thứ tư, đa dạng hóa các kênh huy động vốn cho ngân sách, thực hiện vay nợ công phù hợp với yêu cầu đầu tư phát triển và trong phạm vi khả năng trả nợ. Phát triển thị trường TPCP thứ cấp theo hướng tăng thanh khoản và chiều sâu thị trường; khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư dài hạn như doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nhằm giảm sự phụ thuộc tương đối lớn vào hệ thống ngân hàng thương mại. Quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay cho phát triển KT-XH, tạo nguồn thu cho NSNN, nguồn trả nợ, đảm bảo an toàn an ninh nợ công. Hiện đại hóa công tác quản lý rủi ro danh mục nợ thông qua việc xây dựng mô hình cảnh báo sớm rủi ro tài khóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong dự báo và phân tích nợ công, chủ động các “kịch bản ứng phó” với biến động thị trường tài chính quốc tế.
Tài liệu tham khảo:
- Quốc hội Việt Nam (2015, 2025). Luật NSNN.
- Quốc hội Việt Nam (2017, 2025). Luật Quản lý nợ công.
- Quốc hội Việt Nam (2021). Nghị quyết số 23/2021/QH15 về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021-2025.
- Chính phủ (2021-2025). Báo cáo tình hình thực hiện NSNN hằng năm.
- Bộ Tài chính (2021, 2022, 2023, 2024, 2025). Báo cáo công khai NSNN.
- International Monetary Fund (2023). Vietnam: Article IV Consultation Report.
- World Bank (2024). Vietnam Public Finance Review.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 3/2026 |

