![]() |
| Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn thảo luận tại Tổ 14. Ảnh: Đức Thanh |
Quan trọng nhất là đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn
Sáng 19/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội thảo luận tại tổ về định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) và việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình.
Phát biểu tại Tổ 14 (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh, Đồng Tháp), Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh việc sửa đổi, hợp nhất các luật và tích hợp chương trình lần này gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực và tăng cường phân cấp, phân quyền.
Bộ trưởng cho biết, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đặt mục tiêu đưa đất nước phát triển, phấn đấu tăng trưởng 2 con số. Mục tiêu đến năm 2030 trở thành một nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại và thu nhập ở trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển và thu nhập cao.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, để thực hiện các mục tiêu phát triển đặt ra trong thời gian tới, quy mô nguồn lực đầu tư cần được nâng lên đáng kể, nhưng đi cùng với đó phải là yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Bộ trưởng cho biết, vốn đầu tư cần được đưa lên từ khoảng 31 đến 32% GDP hiện nay lên khoảng 40% GDP hằng năm; đồng thời, yêu cầu về hiệu quả sử dụng vốn cũng phải được nâng lên thông qua cải thiện chỉ số ICOR. ICOR của Việt Nam giai đoạn 2021-2025 khoảng 6,4 và mục tiêu được đặt ra là đưa xuống còn khoảng 4,5 đến 4,8.
“Nếu như không nâng được hiệu quả quản lý sử dụng vốn thì chúng ta không có cách nào để huy động được nguồn lực cho phát triển”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Từ yêu cầu này, Bộ trưởng cho rằng việc quản lý ngân sách và đầu tư công phải chuyển mạnh sang đánh giá hiệu quả. “Từng đồng đầu tư công, từng đồng chi tiêu của ngân sách đều phải tính đến hiệu quả”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nói.
Bộ trưởng cũng cho biết giai đoạn 2026-2030, tổng nguồn lực đầu tư công được tính toán khoảng 8,22 triệu tỷ đồng, trong đó Trung ương khoảng 3,8 triệu tỷ đồng và địa phương khoảng 4,42 triệu tỷ đồng. Quy mô này đòi hỏi việc phân bổ và sử dụng vốn phải được tính toán chặt chẽ hơn.
“Chúng tôi tính toán, gần như tất cả các chỉ số là đều phải gấp đôi so với giai đoạn trước”, Bộ trưởng nói, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu cốt lõi là phải nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Đề cập việc huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư hạ tầng, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho rằng không nên áp dụng máy móc một tỷ lệ vốn tư nhân cố định trong các dự án PPP. Theo ông, khả năng huy động vốn xã hội phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng dự án.
Bộ trưởng lấy ví dụ những địa phương có quỹ đất tốt và khả năng khai thác nguồn lực đất đai cao có thể huy động tỷ lệ vốn tư nhân lớn hơn, trong khi những địa bàn khó khăn sẽ không dễ thu hút nhà đầu tư nếu phải đáp ứng một tỷ lệ vốn tư nhân quá cao. Theo Bộ trưởng, điều quan trọng là phải thay đổi phương thức quản lý tài sản công và quản trị tư, qua đó nâng hiệu quả của các dự án đầu tư công và PPP.
Bộ trưởng cho rằng khi xem xét một công trình hạ tầng, cần tính toán đầy đủ tác động kinh tế - xã hội và khả năng khai thác nguồn lực đi kèm. “Quan trọng nhất là khai thác được quỹ đất hai bên đường: đất ở, đất đô thị, đất công nghiệp, đất thương mại, đất dịch vụ, đất du lịch như thế nào. Đó chính là hiệu quả kinh tế - xã hội”, Bộ trưởng nêu.
Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, tránh phân tán nguồn lực
Một nội dung khác được Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh là yêu cầu khắc phục tình trạng quy định cứng tỷ lệ chi ngân sách cho từng lĩnh vực. Theo Bộ trưởng, quy định này có thể dẫn tới tình trạng thiếu linh hoạt trong điều hành ngân sách giữa các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.
Bộ trưởng dẫn ví dụ, có những địa phương có điều kiện và nhu cầu đầu tư giáo dục khác nhau, trong khi vẫn phải đáp ứng tỷ lệ chi bắt buộc. Từ thực tế này, Bộ trưởng cho rằng, tư tưởng xuyên suốt trong sửa Luật Ngân sách nhà nước và tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia lần này là đánh giá hiệu quả và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm”.
Theo Bộ trưởng, Trung ương sẽ tập trung vào việc đưa ra mục tiêu, cơ chế và giám sát; địa phương được chủ động, linh hoạt trong tổ chức thực hiện.
Cách tiếp cận này cũng được Bộ trưởng nhấn mạnh đối với việc sử dụng nguồn dự phòng ngân sách. Theo đó, dự phòng trước hết dành cho những nhiệm vụ cấp bách, đặc biệt là thiên tai, dịch bệnh và các nhiệm vụ chưa thể tính toán trong quá trình xây dựng dự toán; phần còn lại cần tạo điều kiện để địa phương chủ động xử lý theo thẩm quyền.
Cùng với đó, việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa Trung ương và địa phương phải bảo đảm Trung ương giữ vai trò chủ đạo nhưng đồng thời tạo sự chủ động, linh hoạt cho địa phương.
“Địa phương nào cũng được giao mục tiêu tăng trưởng. Muốn tăng trưởng thì phải có nguồn lực và muốn tăng trưởng thì phải hiệu quả nguồn lực”, Bộ trưởng nói.
![]() |
| Quang cảnh phiên thảo luận Tổ 14. Ảnh: VPQH |
Liên quan công tác xây dựng dự toán thu ngân sách, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho rằng một trong những vấn đề cần khắc phục là tình trạng dự toán chưa sát thực tế.
Theo ông, dự toán thiếu sát thực tế có thể làm méo mó công tác điều hành ngân sách. Vì vậy, từ khâu lập dự toán năm 2027, việc phân tích, dự báo và bám sát nguồn thu cần được thực hiện chặt chẽ hơn. Bộ trưởng cho rằng cần loại trừ những yếu tố khách quan, nhưng về cơ bản dự toán phải được xây dựng trên cơ sở phân tích, dự báo sát tình hình thực tế địa phương.
Chia sẻ thêm về việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho rằng, cần khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực và tổ chức thực hiện. Bộ trưởng dẫn lại thực tế trước đây có những chương trình, cơ sở và đơn vị thực hiện chức năng tương đồng, dẫn tới việc nguồn lực phân tán.
Theo Bộ trưởng, nguồn lực dành cho 4 chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn 2026-2030 là 808.558 tỷ đồng. “Chúng ta phải làm sao để từng đồng, từng việc trong chương trình này đảm bảo hiệu quả”, Bộ trưởng đặt vấn đề. Việc tích hợp phải hướng tới giảm các khâu trung gian, hạn chế chi cho hoạt động hành chính, tập huấn và tăng tỷ trọng nguồn lực thực sự đi vào các mục tiêu đầu tư, phát triển.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cũng nhấn mạnh đến yêu cầu tăng tính ổn định của pháp luật, hạn chế quy định quá chi tiết trong Luật để có thể linh hoạt trong tổ chức thực hiện. Theo đó, cần quán triệt tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị và quan điểm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XV. Theo đó, Luật tập trung quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn các nội dung cụ thể giao Chính phủ và địa phương chủ động hướng dẫn, tổ chức thực hiện phù hợp.
“Nếu chúng ta quy định quá chi tiết từng nội dung vào trong Luật, mỗi khi có khó khăn, vướng mắc sẽ phải sửa luật gây độ trễ và khó khăn trong thực thi chính sách”, Bộ trưởng nói.
Bộ trưởng thông tin thêm, Bộ Tài chính đang nghiên cứu các giải pháp nhằm đơn giản hóa thủ tục thuế, trong đó có định hướng giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và nghiên cứu nâng ngưỡng doanh thu kê khai thuế từ 3 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng. Việc nghiên cứu này xuất phát từ thực tế chi phí tuân thủ pháp luật của hộ kinh doanh và doanh nghiệp vừa và nhỏ còn lớn, trong khi năng lực hạch toán, kế toán của nhiều đơn vị còn hạn chế.




