![]() |
| Để dòng vốn đầu tư công không dừng lại ở kế hoạch, các điểm nghẽn về thể chế, giải phóng mặt bằng, vật liệu, thủ tục và thanh toán đã và đang được tập trung tháo gỡ. Ảnh minh hoạ: Lê Toàn |
Rút ngắn khoảng cách từ kế hoạch vốn đến công trường
Kế hoạch vốn chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được chuyển thành mặt bằng, công trường, khối lượng xây dựng và tài sản đưa vào khai thác. Vì vậy, yêu cầu đẩy nhanh giải ngân đang được đặt cùng với việc xử lý những điểm nghẽn từ thể chế, phân bổ vốn đến giải phóng mặt bằng, vật liệu, thủ tục và thanh toán. Từ Quốc hội đến Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đang đồng thời xử lý những điểm nghẽn từ thể chế, phân bổ vốn đến mặt bằng, vật liệu, thủ tục và thanh toán, tạo điều kiện để dòng vốn bám sát hơn với tiến độ thực tế của từng dự án.
Về thể chế, Quốc hội tiếp tục đồng hành với yêu cầu tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai. Điển hình, ngày 24/8/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027. Việc xử lý đồng thời các vấn đề liên quan đến đất đai, khoáng sản làm vật liệu xây dựng, thủ tục đầu tư, xây dựng và đầu tư công tạo thêm điều kiện để các dự án có yêu cầu tiến độ cao được triển khai thuận lợi hơn.
Cùng với đó, quá trình rà soát, hoàn thiện các quy định về đầu tư công, đấu thầu, quản lý ngân sách và phân cấp, phân quyền tiếp tục được đặt trong yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi) đang đặt mục tiêu tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Những điều chỉnh về thể chế, khi được chuyển hóa thành quy trình rõ hơn và trách nhiệm cụ thể hơn sẽ tạo thêm dư địa để các dự án giảm thời gian chờ đợi ở những khâu thủ tục.
Dự án Luật Ngân sách nhà nước hợp nhất giữa Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công dự kiến trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai (khai mạc ngày 17/10/2026) sẽ góp phần xử lý những điểm giao thoa về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thời hạn và trách nhiệm trong lập, giao dự toán ngân sách với lập, giao kế hoạch vốn đầu tư công, cũng như trong thanh toán, quyết toán, kiểm tra, giám sát vốn đầu tư công. Qua đó, cắt giảm các quy trình, thủ tục trùng lặp, tạo điều kiện đẩy nhanh giải ngân.
Trong điều hành, Chính phủ tiếp tục xác định giải ngân đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng. Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương quyết liệt thúc đẩy giải ngân, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn được giao; đồng thời yêu cầu rà soát, điều chuyển vốn từ những dự án chậm triển khai, không có khả năng giải ngân sang dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân tốt hơn.
Thực hiện chỉ đạo đó, Bộ Tài chính đang theo dõi sát tình hình giải ngân, rà soát phương án phân bổ, nhu cầu điều chỉnh kế hoạch vốn và công khai kết quả theo tuần, tháng để phục vụ điều hành. Các bộ, ngành, địa phương tăng cường thành lập tổ công tác, phân công lãnh đạo trực tiếp theo dõi tiến độ, xây dựng kịch bản giải ngân theo tuần, tháng và kiểm tra thực địa.
Sau 9 tháng, dòng vốn đầu tư công đã tăng tốc rõ rệt. Theo Bộ Tài chính, cả nước giải ngân 642.961,6 tỷ đồng vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước, đạt 62,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn cùng kỳ năm trước 12,9%, tương ứng tăng 202.559,3 tỷ đồng. Riêng tháng 9, số vốn giải ngân gấp 1,58 lần tháng 8.
Nhịp giải ngân được cải thiện, song mức độ hấp thụ vốn giữa các đơn vị vẫn có sự phân hóa. Đến hết ngày 30/9, có 6 bộ, cơ quan trung ương và 19 địa phương đạt tỷ lệ giải ngân từ mức bình quân chung trở lên. Ở chiều ngược lại, vẫn còn 27 bộ, cơ quan trung ương và 15 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới mức bình quân chung; trong đó có 7 bộ, cơ quan trung ương giải ngân dưới 15% hoặc chưa giải ngân.
Sự khác biệt này cho thấy cùng một nguồn lực nhưng khả năng chuyển vốn thành khối lượng thực hiện phụ thuộc rất lớn vào trạng thái của từng dự án. Khi mặt bằng đã sẵn sàng, thủ tục hoàn tất, vật liệu được bảo đảm và nhà thầu đủ năng lực, vốn có thể nhanh chóng chuyển thành sản lượng trên công trường. Ngược lại, nếu một trong các khâu này bị đình trệ, kế hoạch vốn dù lớn cũng khó chuyển thành kết quả tương ứng.
![]() |
| Sau 9 tháng năm 2026, dòng vốn đầu tư công đã tăng tốc rõ rệt. |
Thực tế tại các dự án giao thông trọng điểm cho thấy rõ điều đó. Đến hết ngày 30/9/2026, tổng kế hoạch vốn ngân sách nhà nước được các bộ, địa phương phân bổ cho các dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải và các công trình, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt đạt 265.624,2 tỷ đồng, chiếm 26% tổng kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao của cả nước. Lũy kế giải ngân đạt 113.432,9 tỷ đồng, tương đương 42,7% kế hoạch đã phân bổ.
Đằng sau tỷ lệ chung là những tốc độ rất khác nhau. Đường Vành đai 4 - TP. Hồ Chí Minh đạt 89,9% kế hoạch vốn; cao tốc Quy Nhơn - Pleiku đạt 98,8%; tuyến Bến Thành - Tham Lương đạt 86,7%. Trong khi đó, đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam mới giải ngân 3,7% và tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đạt 8,2%. Những con số này cho thấy tiến độ giữa các dự án giao thông trọng điểm vẫn có sự khác biệt đáng kể, gắn với đặc điểm, quy mô và điều kiện triển khai của từng dự án.
Trên cơ sở nhu cầu và khả năng giải ngân thực tế, Bộ Xây dựng đề nghị điều chỉnh giảm 72.092 tỷ đồng kế hoạch vốn năm 2026 của 2 dự án đường sắt quốc gia; trong đó 63.217,45 tỷ đồng điều chỉnh giảm do chưa có nhu cầu sử dụng và không có khả năng giải ngân, 8.875 tỷ đồng đề nghị điều chuyển cho 12 địa phương để thực hiện các dự án độc lập về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án đường sắt tốc độ cao. Đề xuất này đang được Bộ Tài chính tổng hợp, rà soát, cân đối để báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền việc điều chuyển kế hoạch vốn.
Đây là cách đưa nguồn lực từ nơi chưa thể sử dụng sang nơi có khả năng chuyển hóa nhanh hơn thành khối lượng thực tế, đồng thời hạn chế tình trạng vốn nằm lại trong những dự án chưa đủ khả năng triển khai.
Gỡ từng nút thắt, “biến” nguồn vốn thành công trình
Tiền đã được bố trí, nhưng vốn chỉ thực sự phát huy tác dụng khi công trường có mặt bằng, vật liệu, thủ tục và khối lượng đủ điều kiện nghiệm thu, thanh toán. Tổng hợp của Bộ Tài chính từ các bộ, ngành, địa phương cho thấy những vướng mắc chủ yếu hiện nay tập trung ở giải phóng mặt bằng; nguồn cung và giá vật liệu xây dựng; thủ tục đầu tư; năng lực tổ chức thi công, nghiệm thu, thanh toán. Đây là những khâu trực tiếp quyết định khả năng hấp thụ vốn của từng dự án. bao cao 9 thang
Nếu nguồn vốn là điều kiện cần, thì năng lực tổ chức thực hiện quyết định tốc độ biến nguồn lực đó thành khối lượng và giá trị thực tế. Tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu tập trung vào khâu thực thi, tổ chức triển khai. Với đầu tư công, yêu cầu này càng rõ bởi kế hoạch vốn chỉ có ý nghĩa khi được chuyển nhanh thành mặt bằng, công trường, khối lượng xây dựng và công trình hoàn thành.
Thực tế tại các địa phương có tiến độ giải ngân tích cực cho thấy, điểm chung là việc tổ chức thực hiện được bám sát đến từng dự án, từng khâu và từng mốc tiến độ. Từ giải phóng mặt bằng, hoàn thiện thủ tục đến nghiệm thu, thanh toán và điều chuyển vốn, các địa phương đều chủ động xử lý theo tình hình thực tế, qua đó tạo điều kiện để nguồn vốn được đưa nhanh hơn vào công trường.
Tại Hải Phòng, giải phóng mặt bằng là một trong những khâu được tập trung xử lý để bảo đảm tiến độ các dự án. Đến ngày 15/9, toàn Thành phố có 388 dự án phải thực hiện giải phóng mặt bằng với tổng diện tích hơn 52,5 triệu m², liên quan 56.976 hộ dân và 507 tổ chức. Thành phố đã thực hiện giải phóng mặt bằng 34,38 triệu m², đạt 65,4% tổng diện tích cần thực hiện; tổng số tiền đã chi theo các quyết định là 21.624,8 tỷ đồng.
Cùng với mặt bằng, Hải Phòng yêu cầu các Ban Quản lý dự án, chủ đầu tư và địa phương hoàn thiện thủ tục nghiệm thu, thanh toán ngay khi có khối lượng hoàn thành, đồng thời tập trung xử lý những tồn tại ảnh hưởng đến tiến độ. Cách làm này góp phần duy trì vị thế của Hải Phòng trong nhóm địa phương có tiến độ giải ngân tích cực. Trong 9 tháng đầu năm 2026, thành phố đứng thứ 3 toàn quốc về tổng số vốn giải ngân với gần 30.800 tỷ đồng và trở lại nhóm 5 địa phương có tỷ lệ giải ngân cao nhất cả nước.
Tại Hà Nội, việc bám sát công trường được đặt cùng với yêu cầu tháo gỡ vướng mắc ngay trong quá trình triển khai. Lãnh đạo Thành phố thường xuyên kiểm tra thực địa các công trình sử dụng vốn đầu tư công, nhất là các dự án giao thông trọng điểm, để nắm tiến độ và xử lý trực tiếp những vấn đề về giải phóng mặt bằng, tái định cư, thủ tục pháp lý và tổ chức thi công.
Sự sát sao trong tổ chức thực hiện đã được phản ánh qua khối lượng và kết quả giải ngân. Đến cuối tháng 9, Hà Nội đã giải ngân 99.100 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 82,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Nguồn lực đầu tư công tiếp tục được bổ sung và tập trung cho các dự án có tính lan tỏa cao. Thành phố đang thúc đẩy chương trình phát triển 5 tuyến đường sắt đô thị với tổng chiều dài khoảng 303,5 km, tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 1,3 triệu tỷ đồng; đẩy mạnh các dự án nhà ở cho thuê gắn với mô hình TOD và phát triển các khu đô thị mới.
![]() |
| Nhiều địa phương đạt kết quả tích cực trong giải ngân đầu tư công. |
Ở Bắc Ninh, việc lập kịch bản tiến độ theo tuần, tháng được kết hợp với kiểm tra thực địa, xử lý giải phóng mặt bằng và phối hợp với Kho bạc Nhà nước khu vực VI để rút ngắn thời gian kiểm soát chi, nghiệm thu, thanh toán và thu hồi tạm ứng. Địa phương cũng chủ động rà soát, cắt giảm vốn ở những dự án chậm triển khai để điều chuyển cho công trình có tiến độ tốt hơn, tránh tình trạng “vốn chờ dự án”. Cách điều hành này giúp Bắc Ninh trở thành một trong những điểm sáng về giải ngân. Tính đến ngày 17/9, tỉnh đã giải ngân hơn 12.400 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 79,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao là 15.500 tỷ đồng.
Khi công trường đã có khối lượng, tốc độ thanh toán trở thành một phần của tiến độ thi công. Ban Quản lý dự án 2 thuộc Bộ Xây dựng đang quản lý nhiều dự án giao thông với tổng nguồn vốn khoảng 50.000 tỷ đồng, duy trì mức giải ngân khoảng 6.000-8.000 tỷ đồng/năm, đạt 90-95% chỉ tiêu được giao.
Ông Lê Thắng, Giám đốc Ban Quản lý dự án 2 cho biết, sự phối hợp giữa chủ đầu tư, nhà thầu và Kho bạc Nhà nước, nhất là trong hướng dẫn và thanh toán vốn, là một yếu tố quan trọng. Hồ sơ gửi qua dịch vụ công trực tuyến được xử lý nhanh; khoản tạm ứng thực hiện trong 1 ngày làm việc, thanh toán khối lượng hoàn thành trong 2 ngày làm việc.
Tại dự án Cải tạo, mở rộng Quốc lộ 2 đoạn Vĩnh Yên - Việt Trì, ông Nguyễn Lê Minh, Giám đốc Ban điều hành dự án thuộc Ban Quản lý dự án Hàng hải và Đường thủy (Bộ Xây dựng) cho biết, việc đưa giao dịch lên môi trường điện tử giúp hồ sơ nghiệm thu được tiếp nhận, xử lý nhanh hơn, vốn về tài khoản nhà thầu kịp thời để mua vật tư và trả lương công nhân.
Kho bạc Nhà nước cũng đang tập trung rút ngắn thời gian ở khâu này. Theo bà Lương Thị Hồng Thúy, Phó Trưởng ban Chính sách - Pháp chế Kho bạc Nhà nước (Bộ Tài chính), từ đầu năm 2026, toàn hệ thống duy trì báo cáo hằng tuần phục vụ công tác điều hành, đồng thời thông báo kết quả giải ngân hằng tháng tới từng bộ, ngành, địa phương. Việc triển khai Nghị định số 254/2025/NĐ-CP và số hóa quy trình thanh toán giúp thời gian xử lý tối đa còn 2 ngày làm việc đối với khoản thanh toán khối lượng hoàn thành và 1 ngày đối với khoản tạm ứng khi hồ sơ đầy đủ, đáp ứng yêu cầu.
Từ thực tế triển khai có thể thấy, dòng vốn không tự chạy theo kế hoạch. Nó chỉ chạy nhanh khi cả chuỗi thực hiện được tổ chức đồng bộ: Mặt bằng phải đi trước, vật liệu phải theo kịp, thủ tục phải được rút ngắn, công trường phải tạo ra khối lượng và thanh toán phải bám sát khối lượng hoàn thành. Đây chính là năng lực hấp thụ vốn của từng dự án, từng địa phương.
Vì vậy, trong những tháng cuối năm, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục thúc tỷ lệ giải ngân, mà phải bám sát từng dự án, từng khâu và từng mốc tiến độ; làm rõ nguyên nhân chậm, xác định trách nhiệm và xử lý đến cùng những điểm nghẽn đang giữ vốn lại. Bộ Tài chính thường xuyên đề nghị các bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư, ban quản lý dự án theo dõi sát từng dự án, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và điều chuyển vốn từ nơi không có khả năng giải ngân sang nơi có nhu cầu, khả năng giải ngân tốt hơn.
Khi dòng vốn đã đến được công trường, mục tiêu tiếp theo không dừng ở việc hoàn thành một tỷ lệ giải ngân. Điều quan trọng hơn là biến đồng vốn thành công trình hoàn thiện, đưa tài sản vào khai thác và tạo thêm năng lực cho nền kinh tế. Đó cũng là bước chuyển của câu chuyện đầu tư công, từ khơi dòng vốn đến “đo” giá trị mà dòng vốn tạo ra.
(Còn nữa)





