|
| Những biến động địa chính trị tại khu vực Trung Đông đã tác động tiêu cực đến thị trường năng lượng toàn cầu. |
BÀI 1: CƠN ĐỊA CHẤN TỪ XUNG ĐỘT TRUNG ĐÔNG
Chỉ trong thời gian ngắn, những biến động địa chính trị tại khu vực Trung Đông đã tác động tiêu cực đến thị trường năng lượng toàn cầu. Giá dầu, khí LNG và than liên tục tăng cao, kéo theo chi phí sản xuất, vận tải và lạm phát gia tăng trên diện rộng.
Khủng hoảng năng lượng toàn cầu và tác động lan rộng
Thị trường năng lượng thế giới đang trải qua một giai đoạn đặc biệt, khi các yếu tố địa chính trị trở thành biến số chi phối mạnh mẽ chưa từng có. Trong khi xung đột Nga - Ukraine kéo dài chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, thì Trung Đông tiếp tục trở thành điểm nóng với nguy cơ lan rộng, đặc biệt tại các khu vực có ý nghĩa chiến lược đối với vận chuyển dầu khí như eo biển Hormuz.
Eo biển Hormuz là "yết hầu" của dòng chảy năng lượng toàn cầu. Chỉ cần một sự cố hoặc nguy cơ gián đoạn, thị trường lập tức phản ứng. Giá dầu có thể tăng mạnh chỉ trong vài phiên giao dịch, kéo theo LNG và than biến động theo, tạo ra hiệu ứng dây chuyền tới toàn bộ nền kinh tế thế giới.
Điểm đáng chú ý là các cú sốc hiện nay không còn mang tính chu kỳ như trước, mà có xu hướng xảy ra dồn dập, chồng lấn và lan truyền rất nhanh. Nếu như trước đây, biến động giá năng lượng cần thời gian để "ngấm" vào nền kinh tế, thì nay tác động gần như tức thời, phản ánh ngay vào chi phí vận tải, giá nguyên vật liệu và giá hàng hóa.
|
| Trong bối cảnh năng lượng thế giới chịu tác động từ xung đột Trung Đông, Việt Nam đã có nhiều giải pháp nhằm bình ổn thị trường năng lượng trong nước. Ảnh: Lê Toàn |
Không chỉ các nền kinh tế lớn, khu vực Đông Nam Á cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt. Các quốc gia như Thái Lan, Campuchia… phải đối mặt với áp lực tăng giá nhiên liệu, buộc Chính phủ phải can thiệp bằng các biện pháp tài khóa, trợ giá hoặc điều chỉnh chính sách thuế để ổn định thị trường.
Những diễn biến này cho thấy, an ninh năng lượng đã vượt ra khỏi phạm vi của từng quốc gia riêng lẻ, trở thành vấn đề nóng bỏng toàn cầu. Trong bối cảnh đó, bất kỳ nền kinh tế nào có độ phụ thuộc cao vào nhập khẩu năng lượng đều phải đối mặt với rủi ro lớn hơn.
Giá xăng dầu tại Việt Nam chịu tác động trực tiếp từ biến động giá thế giới do nước ta vẫn phải nhập khẩu 30-35% nhu cầu xăng dầu thành phẩm. Theo số liệu của Cục Hải Quan, năm 2025, Việt Nam nhập khẩu 27,74 triệu tấn xăng dầu, khí hóa lỏng (tăng 3,3% so với năm trước), trị giá 16,72 tỷ USD (giảm 7,4% so với năm trước, chủ yếu là do giá giảm). Trong đó, lượng nhập khẩu từ Trung Đông là 6,55 tỷ USD (chiếm 39%), chủ yếu là nhập khẩu dầu thô từ Kuwait (6,14 tỷ USD, chiếm 93,7% giá trị nhập khẩu năng lượng từ Trung Đông, còn lại là nhập khẩu khí hóa lỏng từ Qatar, Ả Rập - Xê Út và UAE - chiếm 6,3%).
Tổng nhu cầu xăng dầu và khí đốt của Việt Nam hiện nay khoảng 26,65 triệu tấn, nguồn cung nội địa chỉ đạt khoảng 14,5 triệu tấn (chiếm 54,4%), chủ yếu từ hai nhà máy đóng tại Dung Quất và Nghi Sơn, phần còn lại (45,6%, khoảng 12,15 triệu tấn) vẫn phải nhập khẩu.
| Những biến động địa chính trị tại khu vực Trung Đông đang tạo ra sức ép mới đối với thị trường năng lượng toàn cầu, kéo theo rủi ro về giá cả và nguồn cung xăng dầu. Trong bối cảnh đó, bảo đảm an ninh năng lượng không chỉ là yêu cầu trước mắt nhằm ổn định thị trường, mà còn trở thành nhiệm vụ gắn với mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế. |
Trong đó, dầu diesel có nhu cầu khoảng 11,5 triệu tấn, sản xuất trong nước chỉ đáp ứng 56%, nhập khoảng 5,06 triệu tấn; nhiên liệu bay Jet-A1 còn phụ thuộc cao hơn, với mức tự chủ chỉ khoảng 38%; khí LPG chỉ đáp ứng được khoảng 12%; khí LNG gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu, đặc biệt là từ nhà cung cấp Qatar và Ả Rập - Xê Út. Thực tế này cho thấy nguồn nguyên liệu đầu vào cho xăng dầu và khí của Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào chuỗi cung ứng dầu khí toàn cầu, đặc biệt là khu vực Trung Đông.
Những biến động địa chính trị tại khu vực Trung Đông đang tạo ra sức ép mới đối với thị trường năng lượng toàn cầu, kéo theo rủi ro về giá cả và nguồn cung xăng dầu. Trong bối cảnh đó, bảo đảm an ninh năng lượng không chỉ là yêu cầu trước mắt nhằm ổn định thị trường, mà còn trở thành nhiệm vụ gắn với mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế.
Ngày 20/3/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận 14-KL/TW về bảo đảm nguồn cung và ổn định giá nhiên liệu. Bộ Chính trị giao Chính phủ chủ động dự báo cung - cầu, giá xăng dầu thế giới, xây dựng kịch bản ứng phó và linh hoạt sử dụng các công cụ tài khóa, tiền tệ, quản lý giá, thương mại; đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra, chống buôn lậu, găm hàng, gian lận.
Bên cạnh đó, yêu cầu khuyến khích tiết kiệm tiêu dùng, ổn định nguồn cung trong nước, sớm xây dựng chiến lược dài hạn về cung ứng, dự trữ nhiên liệu. Các bộ Ngoại giao, Công Thương, Tài chính chủ động làm việc với đối tác quốc tế để bảo đảm nguồn nguyên liệu cho sản xuất, kinh doanh; qua đó triển khai đồng bộ các giải pháp ứng phó biến động năng lượng từ bên ngoài.
Từ chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 14-KL/TW, sự điều hành của Chính phủ, một chuỗi giải pháp đã được chủ động kích hoạt và triển khai đồng bộ ứng phó với biến động năng lượng từ bên ngoài.
Giải bài toán tự chủ năng lượng
Ngày 30/3/2026, Thủ tướng ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg, nhấn mạnh việc bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định, liên tục là nhiệm vụ "có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng kinh tế và an ninh năng lượng quốc gia". Điểm đáng chú ý là lần này, Chính phủ không chỉ yêu cầu bảo đảm nguồn cung, mà còn đặt vấn đề sử dụng năng lượng hiệu quả, tức là tiếp cận an ninh năng lượng từ cả phía cung và cầu.
Bên cạnh đó, trước áp lực tăng giá nhiên liệu, Chính phủ đã triển khai hàng loạt biện pháp mạnh trong thời gian rất ngắn. Ngày 26/3/2026, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 482/QĐ-TTg về việc áp dụng mức thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay trong trường hợp cần thiết vì lợi ích quốc gia. Theo đó, Chính phủ cho phép áp dụng các mức thuế đặc biệt đối với xăng dầu trong trường hợp cần thiết, đồng thời đưa thuế bảo vệ môi trường và thuế tiêu thụ đặc biệt về 0%.
| Sáng ngày 12/4/2026, trước khi kết thúc đợt 1 của Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XVI, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về việc ban hành một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay. Nghị quyết đã đưa thuế xăng dầu và nhiên liệu bay về mức 0%, áp dụng từ ngày 16/4 đến hết ngày 30/6/2026, đồng thời giao Chính phủ chủ động điều chỉnh thời gian thực hiện để linh hoạt ứng phó biến động thị trường. |
Ngay sau đó, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 69/NQ-CP ngày 27/3/2026 triển khai thực hiện chi tạm ứng cho Quỹ Bình ổn giá xăng dầu từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2025. Chính phủ thống nhất bổ sung 8.000 tỷ đồng dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2026 tạm ứng cho Quỹ Bình ổn giá xăng dầu để giữ ổn định thị trường.
Trình bày báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, tình hình triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 của Chính phủ tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cũng đã nhấn mạnh, tập trung bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cả trước mắt và lâu dài, nhất là bảo đảm nguồn cung dầu thô, khí đốt. Trong đó, bảo đảm cân đối cung cầu; xây dựng hệ thống quản trị năng lượng thông minh; hình thành hệ thống kho dự trữ dầu thô quy mô lớn, duy trì nguồn cung ổn định ít nhất 90 ngày, thực hiện đa dạng hóa nguồn cung. Về lâu dài, chuyển đổi năng lượng và nâng cao năng lực dự trữ chiến lược…
Đồng hành với những nỗ lực của Chính phủ, sáng ngày 12/4/2026, trước khi kết thúc đợt 1 của Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XVI, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về việc ban hành một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay. Nghị quyết đã đưa thuế xăng dầu và nhiên liệu bay về mức 0%, áp dụng từ ngày 16/4 đến hết ngày 30/6/2026, đồng thời giao Chính phủ chủ động điều chỉnh thời gian thực hiện để linh hoạt ứng phó biến động thị trường.
Ở tầng điều hành thị trường, liên Bộ Công Thương - Tài chính liên tục điều hành giá bán lẻ các mặt hàng xăng dầu trong nước cập nhật giá theo diễn biến thế giới. Đồng thời, yêu cầu các doanh nghiệp đầu mối bảo đảm nguồn cung, không găm hàng, duy trì dự trữ và đa dạng hóa nguồn nhập khẩu. Những biện pháp này cho thấy mức độ quyết liệt của điều hành. Tuy nhiên, ở góc độ dài hạn, đây vẫn chủ yếu là các giải pháp mang tính "giảm sốc" - giúp ổn định thị trường trong ngắn hạn, nhưng chưa giải quyết tận gốc vấn đề.
Đánh giá về phản ứng nhanh nhạy của Chính phủ Việt Nam trước biến động của thế giới, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, ông Shantanu Chakraborty nhấn mạnh: "Chính phủ Việt Nam đã phản ứng nhanh chóng trước tình trạng gián đoạn nguồn cung năng lượng do xung đột tại Trung Đông gây ra. Các biện pháp tài khóa có thời hạn bao gồm: giảm thuế, sử dụng quỹ bình ổn, kết hợp với điều hành giá linh hoạt và tăng cường phối hợp đảm bảo nguồn cung, đã góp phần kiềm chế áp lực lạm phát trong ngắn hạn và hỗ trợ tăng trưởng".
Bên cạnh đó, ông Shantanu Chakraborty cũng cho rằng, về dài hạn, việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, đa dạng hóa nguồn cung và đẩy nhanh tiến độ chuyển dịch sang năng lượng sạch sẽ đóng vai trò then chốt, giúp giảm tính dễ tổn thương trước các cú sốc trong tương lai.
Nhìn từ thực tế điều hành, có thể thấy Việt Nam đã có những phản ứng nhanh và hiệu quả để giữ ổn định trong ngắn hạn. Nhưng cũng chính những biện pháp mạnh đó lại cho thấy một thực tế rõ ràng, hệ thống năng lượng vẫn chưa có đủ "độ tự chủ" để đứng vững trước những cú sốc lớn từ bên ngoài.
Điều này cũng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV diễn ra vào sáng ngày 13/4/2026 đó là: "Trong quy hoạch tổng thể phải đặc biệt chú trọng hơn nữa quy hoạch năng lượng. Không có năng lượng đủ, ổn định, bền vững, giá phù hợp và phân bổ hợp lý thì không thể có công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công, không thể có tăng trưởng cao kéo dài, không thể có những không gian phát triển mới".
Thực tế cho thấy, những giải pháp điều hành ngắn hạn có thể giúp "giảm sốc", nhưng không thể thay thế một nền tảng an ninh năng lượng vững chắc. Và cũng từ đây, yêu cầu hình thành một chiến lược dài hạn, bài bản và mang tính hệ thống như tinh thần của Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết.
(Còn nữa)



