![]() |
| BSR tích cực triển khai hành trình xanh hóa Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Ảnh: Internet |
Mỗi 1% giảm cường độ tiêu thụ năng lượng tiết kiệm 2,5-3 triệu USD
Nhà máy Lọc dầu Dung Quất được thiết kế với công suất 6,5 triệu tấn/năm, hiện đang được khai thác với sản lượng khoảng 8 triệu tấn/năm.
Là nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất hiện cung ứng khoảng 30% nhu cầu xăng dầu trong nước, góp phần quan trọng bảo đảm nguồn cung nhiên liệu cho nền kinh tế, đồng thời đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ngãi và khu vực miền Trung.
Với đặc thù của một cơ sở công nghiệp chế biến dầu khí có mức tiêu thụ năng lượng lớn, phát thải khí nhà kính của Nhà máy chủ yếu phát sinh trực tiếp từ quá trình đốt nhiên liệu để tạo nhiệt và hơi phục vụ sản xuất, chiếm khoảng 99% tổng lượng phát thải.
Chia sẻ về quy mô của bài toán chuyển đổi xanh tại Hội thảo khoa học “Phát triển bền vững Khu kinh tế (KKT) Dung Quất và các khu công nghiệp (KCN) Quảng Ngãi trong kỷ nguyên số” do Ban Quản lý KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi vừa tổ chức, ông Mai Tuấn Đạt, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR) cho biết kết quả kiểm kê cho thấy Nhà máy Lọc dầu Dung Quất phát thải quy đổi trung bình khoảng 1,6 triệu tấn CO2 mỗi năm. Khi dự án mở rộng đi vào hoạt động, con số này dự kiến tăng thêm khoảng 10%.
Theo ông Mai Tuấn Đạt, trước yêu cầu chuyển dịch năng lượng, BSR xác định chuyển đổi xanh và cân bằng phát thải là mục tiêu quan trọng, với 5 nhóm giải pháp chính gồm: nâng cao hiệu quả năng lượng và tối ưu vận hành; chuyển đổi sang nhiên liệu xanh hơn; xanh hóa chuỗi sản phẩm; thu hồi, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS); tham gia thị trường carbon và các cơ chế bù trừ phát thải.
Trong đó, nâng cao hiệu quả năng lượng và tối ưu vận hành được xác định là giải pháp có thể triển khai ngay và mang lại hiệu quả rõ rệt.
“Đây là nhóm mang tính tối ưu hóa cơ bản, không cần đầu tư nhưng hiệu quả chúng ta có thể đo được ngay”, ông Mai Tuấn Đạt nhấn mạnh.
Theo đó, BSR đã ứng dụng nhiều giải pháp từ tối ưu chế độ vận hành, thu hồi nhiệt thải đến hệ thống điều khiển công nghệ cao, điều khiển theo thời gian thực, bảo dưỡng chẩn đoán và trí tuệ nhân tạo.
Đến nay, hơn 50 giải pháp tiết kiệm năng lượng và tối ưu vận hành đã được triển khai thành công. Trong khoảng 10 năm, cường độ tiêu thụ năng lượng EII của Nhà máy giảm từ khoảng 115% xuống xấp xỉ 100%.
Hiệu quả của quá trình này không chỉ được thể hiện bằng mức tiêu hao năng lượng mà còn có thể quy đổi trực tiếp thành giá trị kinh tế.
“Cứ giảm được 1% cường độ tiêu thụ năng lượng, mỗi năm chúng tôi sẽ tiết kiệm được khoảng 2,5-3 triệu USD, tùy theo giá nhiên liệu. Như vậy, với mức giảm 15%, con số tiết kiệm là rất đáng kể, khoảng 40 triệu USD”, ông Mai Tuấn Đạt cho biết.
Cùng với hiệu quả kinh tế, cường độ phát thải khí nhà kính của Nhà máy đã giảm từ 253 kg CO2e/tấn sản phẩm năm 2022 xuống còn 225 kg CO2e/tấn sản phẩm. Kết quả này cho thấy dư địa giảm phát thải ngay từ quá trình sản xuất vẫn còn đáng kể, đồng thời việc chuyển đổi xanh có thể song hành với nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
![]() |
| Ông Mai Tuấn Đạt, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR) chia sẻ tại Hội thảo. |
Từng bước xanh hóa chuỗi sản phẩm
Sau tối ưu năng lượng, chuyển đổi nhiên liệu được BSR xác định là nhóm giải pháp có tiềm năng giảm phát thải rất lớn. “Với nhóm này, tiềm năng giảm phát thải là rất lớn, có thể nói là lớn nhất trong các nhóm giải pháp”, ông Mai Tuấn Đạt cho biết.
Một trong những hướng đi trước mắt là khai thác năng lượng tái tạo. BSR đang triển khai điện mặt trời, trước tiên khai thác tiềm năng điện mặt trời áp mái. Đồng thời, Tổng công ty đã đăng ký vào quy hoạch của tỉnh dự án điện gió với công suất 48 MW.
Theo ông Mai Tuấn Đạt, BSR đã lắp đặt cột quan trắc gió và kết quả sơ bộ cho thấy tốc độ gió trung bình thấp nhất trên 5,5 m/s, đủ điều kiện để tính toán phương án đầu tư.
Một giải pháp quan trọng khác đã được ký hợp đồng để triển khai là chuyển nguồn nhiên liệu từ dầu FO và LPG sang đốt khí thiên nhiên. Theo phương án này, dầu FO và LPG được giữ lại làm sản phẩm để bán thay vì sử dụng làm nhiên liệu đốt.
Trong lộ trình trung hạn, BSR xác định chuyển đổi sang LNG là giải pháp giảm phát thải có tính khả thi cao nhất trong giai đoạn từ nay đến năm 2035, góp phần giảm cường độ carbon của các hệ thống đốt nhiên liệu hiện hữu.
Song song với thay đổi năng lượng đầu vào, một hướng đi được BSR dành nhiều nguồn lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là xanh hóa chuỗi sản phẩm.
“Chúng tôi đã tập trung rất nhiều nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đến nay, chúng tôi đã thành công trong việc phát triển công nghệ để từng bước xanh hóa toàn bộ chuỗi sản phẩm”, ông Mai Tuấn Đạt cho biết.
Với xăng sinh học E10, hạ tầng đã được cải tiến để đáp ứng yêu cầu cung ứng. Riêng trong tháng 8, ngoài xăng nền, lượng xăng E10 BSR cung cấp ra thị trường khoảng 130.000 m3.
Đối với nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), BSR đang chuẩn bị các phương án về công nghệ cũng như đầu tư để từng bước phát triển sản phẩm. Cùng với đó, ở nhóm diesel, BSR đã bán lô dầu diesel sinh học B5 đầu tiên.
Theo ông Mai Tuấn Đạt, những bước đi này cho thấy quá trình xanh hóa chuỗi sản phẩm đã bắt đầu từ những tỷ lệ 5%, 10% và sẽ tiếp tục được mở rộng trong thời gian tới.
Ở tầm nhìn dài hạn, BSR cũng nghiên cứu các sản phẩm nhiên liệu tổng hợp. Đây là bước chuyển từ việc chỉ giảm phát thải trong quá trình sản xuất sang từng bước giảm cường độ carbon của sản phẩm đầu ra, qua đó thích ứng với xu hướng chuyển dịch năng lượng và những yêu cầu ngày càng cao đối với sản phẩm năng lượng carbon thấp.
![]() |
| Nhà máy Lọc hoá dầu Dung Quất. Ảnh: Internet |
Một hướng nghiên cứu đáng chú ý khác là thu hồi, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS). Đây được xác định là giải pháp quan trọng đối với những nguồn phát thải khó cắt giảm của ngành lọc hóa dầu và là giải pháp chiến lược cho giai đoạn sau năm 2035.
Thay vì chỉ thu hồi CO2 để lưu trữ, BSR đang hướng tới khả năng chuyển hóa CO2 thành những sản phẩm có ích. “Cách tiếp cận có lẽ hiệu quả nhất là chuyển hóa CO2 thành sản phẩm hữu ích hơn là mang đi lưu trữ”, ông Mai Tuấn Đạt cho biết.
Theo hướng này, BSR đang hoàn thiện các nghiên cứu sản xuất methanol từ CO2, kết hợp với nguồn hydro của Nhà máy, hướng tới các sản phẩm methanol tổng hợp trong tương lai. Cùng với đó là nghiên cứu khả năng thu hồi CO2 từ những nguồn phát thải tập trung và từng bước chuẩn bị cho các giải pháp giảm phát thải sâu.
Từ chuyển đổi xanh của BSR đến hệ sinh thái carbon thấp tại Dung Quất
Nhóm giải pháp thứ năm trong chiến lược của BSR là tham gia thị trường carbon và các cơ chế bù trừ phát thải. Với quy mô phát thải lớn, việc đạt mục tiêu giảm phát thải không thể dựa vào một giải pháp riêng lẻ mà cần sự kết hợp của nhiều công cụ, từ tiết kiệm năng lượng, chuyển đổi nhiên liệu đến CCUS và các cơ chế carbon.
Trong đó, phát triển rừng và các bể hấp thụ carbon có thể trở thành một công cụ bổ trợ. Tuy nhiên, với quy mô phát thải khoảng 1,6-1,7 triệu tấn CO2e/năm, BSR xác định hấp thụ carbon thông qua trồng rừng không thay thế các giải pháp giảm phát thải tại nguồn, mà hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình thực hiện mục tiêu trung hòa carbon dài hạn.
Theo lãnh đạo BSR, quá trình hiện thực hóa các mục tiêu này vẫn còn những điều kiện cần tiếp tục được hoàn thiện. Công nghệ CCUS đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn và hạ tầng thu gom, vận chuyển, lưu trữ CO2; nguồn cung khí thiên nhiên, điện xanh và hydro xanh phục vụ chuyển đổi năng lượng tại khu vực Dung Quất cũng cần được phát triển đồng bộ.
Tuy nhiên, chính những yêu cầu đó đồng thời mở ra không gian hợp tác mới giữa doanh nghiệp, địa phương và các nhà đầu tư trong phát triển hạ tầng năng lượng, hạ tầng carbon cũng như các mô hình công nghiệp xanh.
Đối với thị trường carbon, ông Đạt cho biết Quảng Ngãi có lợi thế về diện tích rừng, tạo tiềm năng cho các dự án hấp thụ carbon. Theo đó, đại diện BSR kiến nghị UBND tỉnh Quảng Ngãi hỗ trợ kết nối quỹ đất, chủ rừng và các chương trình phát triển rừng phù hợp để doanh nghiệp tham gia các dự án hấp thụ carbon; đồng thời hỗ trợ thí điểm mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp và địa phương trong phát triển rừng, kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh.
Ở quy mô rộng hơn, BSR đề xuất Ban Quản lý KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi tiếp tục thúc đẩy liên kết doanh nghiệp theo mô hình cộng sinh công nghiệp, hướng tới hình thành hệ sinh thái khu công nghiệp xanh, carbon thấp.
Theo ông Mai Tuấn Đạt, Dung Quất đã hình thành những hạ tầng công nghiệp có giá trị lớn tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất và các dự án công nghiệp khác. Thay vì mỗi dự án phát triển hạ tầng riêng biệt, khả năng kết nối, kế thừa và chia sẻ những hạ tầng sẵn có có thể tạo thêm lợi thế cho toàn KKT.
“Các hạ tầng công nghiệp đã có là rất quý. Nếu chúng ta gối đầu, kế thừa, chia sẻ thì sẽ đem lại lợi thế rất lớn cho các doanh nghiệp đến sau cũng như các doanh nghiệp đang sở hữu những hạ tầng này”, ông Mai Tuấn Đạt nhấn mạnh.





