Sức bật từ các địa phương

Khai mở rộng lực mới, bứt phá mục tiêu tăng trưởng giai đoạn tới
Chính phủ quyết liệt các giải pháp để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số năm 2026.

Đáng chú ý, trong bức tranh kinh tế năm 2025, đầu tư là một dấu ấn nổi bật. Lần đầu tiên, có tới 3 đợt đồng loạt khởi công, khánh thành các dự án (564 công trình, tổng mức đầu tư hơn 5,14 triệu tỷ đồng). Trong đó, các dự án do tư nhân cả trong và ngoài nước đầu tư là 3,84 triệu tỷ đồng (chiếm 74,6%), Nhà nước đầu tư khoảng 1,3 triệu tỷ đồng (chiếm 25,4%).

Song song với đó, một nguồn lực khổng lồ đã được huy động cho đầu tư phát triển. Năm 2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt trên 4,15 triệu tỷ đồng, bằng khoảng 32,3% GDP. Tính chung 5 năm 2021 - 2025, ước đạt trên 17,3 triệu tỷ đồng, tăng 44,6% so với giai đoạn trước, trong đó đầu tư công đạt khoảng 3,4 triệu tỷ đồng, tăng gần 55%. Đặc biệt, năm 2025, Việt Nam cũng dành khoảng 1,08 triệu tỷ đồng cho đầu tư phát triển - cao nhất kể từ trước tới nay.

Theo đánh giá của các chuyên gia, tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt kết quả tích cực cho thấy nội lực và khả năng thích ứng của nền kinh tế Việt Nam đang dần được củng cố. Đây là điểm tựa tốt cho tăng trưởng kinh tế trong năm 2026 và những năm sau. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn mới 2026 - 2030, kinh tế trong nước đứng trước nhiều thách thức bất định với nhiều cơ hội đan xen thách thức, việc duy trì và đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong những năm tiếp theo đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc của cả nền kinh tế. Đồng thời, phải hội tụ đồng bộ nhiều điều kiện quan trọng, cả về nền tảng vĩ mô, nguồn lực tăng trưởng, chất lượng phát triển và năng lực điều hành chính sách.

Nền tảng cho giai đoạn phát triển mới

Để hiện thực hóa những mục tiêu và vượt qua thách thức trong năm 2026 cũng như giai đoạn tiếp theo, sự quyết tâm, nỗ lực không ngừng của toàn Đảng và toàn dân để tạo ra sự bứt phá là dựa trên nền tảng nguồn lực đã và đang được đầu tư tích lũy trong thời gian qua. Đồng thời, phải nâng cao sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, đặc biệt là tại các công trình trọng điểm nhằm tạo ra giá trị thực tiễn cho sản xuất và đời sống nhân dân. Việc đầu tư phải hướng tới mục tiêu nâng cao năng suất lao động thông qua phát triển đồng bộ cả hạ tầng cứng (giao thông) và hạ tầng mềm (công nghệ số).

Trong nhóm giải pháp về thúc đẩy tăng trưởng, Chính phủ chỉ đạo phối hợp chặt chẽ, linh hoạt, hiệu quả chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả và các chính sách vĩ mô khác; điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp; thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), phát triển các động lực tăng trưởng mới, công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo…

Cùng với đó, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô bởi đây là điều kiện tiên quyết để xây dựng niềm tin vững chắc cho nhân dân và tạo sức hút mạnh mẽ đối với các dòng vốn đầu tư nước ngoài, giúp Việt Nam kết nối sâu rộng hơn với nền kinh tế toàn cầu. Ngoài ra, tiếp tục đầu tư phát triển con người theo chiều sâu. Thay vì chỉ tập trung vào chiều rộng, chiến lược cần chú trọng đầu tư chiều sâu vào nguồn nhân lực, giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn, đảm bảo sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lao động và công nghệ để tạo ra giá trị phát triển bền vững theo đúng định hướng đã đề ra.

Theo chuyên gia kinh tế TS. Cấn Văn Lực, cần xác định chính sách tài khóa là trụ cột chủ lực, chính sách tiền tệ đóng vai trò hỗ trợ. Trọng tâm là kích cầu đầu tư và tiêu dùng, giữ vững "mặt trận" xuất khẩu truyền thống, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ và khai thác hiệu quả hơn các động lực tăng trưởng mới. Cùng với đó, triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính cấu trúc như nâng hạng thị trường chứng khoán theo đúng lộ trình; từng bước vận hành Trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; thành lập thị trường carbon; xây dựng trung tâm giao dịch bất động sản; nâng cấp thị trường giao dịch hàng hóa. Đồng thời, cần chú trọng bình ổn các thị trường then chốt như nhà đất, tỷ giá và vàng để hạn chế rủi ro lan truyền.