TS. Trần Hoàng Hiểu
Học viện Chính trị khu vực IV; Email: [email protected]
PGS.TS. Phan Văn Phúc
Khoa Khoa học chính trị, Xã hội và Nhân văn, Đại học Cần Thơ
Tóm tắt
Từ khóa: Kinh tế xanh, phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn
GREEN TRANSITION EXPERIENCES OF SELECTED COUNTRIES AND IMPLICATIONS FOR VIET NAM
Summary
This article analyzes the experiences of developing green economy models across several countries to derive policy implications for Viet Nam’s green transition. The findings indicate that a standard feature across countries is the pursuit of sustainable development through the integrated consideration of three dimensions: economic, social, and environmental. On this basis, the article highlights several key issues for Viet Nam’s green transition, including the need to assess cumulative impacts and tradeoffs associated with green development; to reconcile economic growth objectives with environmental protection; and to integrate green growth-oriented fiscal policies with poverty reduction programs.
Keywords: Green economy, sustainable development, circular economy
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), kinh tế xanh là nền kinh tế có mức phát thải carbon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hòa nhập xã hội. Trong nền kinh tế này, tăng trưởng việc làm và thu nhập được thúc đẩy bởi đầu tư của chính phủ và tư nhân vào các hoạt động kinh tế, kết cấu hạ tầng và tài sản cho phép giảm phát thải khí CO2 và ô nhiễm môi trường, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học cũng như các chức năng sinh thái. Tổ chức Hợp tác Phát triển kinh tế (OECD) cũng có quan điểm tương tự, khi cho rằng, tăng trưởng xanh có nghĩa là đạt được mục tiêu tăng trưởng đồng thời giảm ô nhiễm và khí nhà kính, hạn chế rác thải và cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
Trên thế giới, quá trình chuyển đổi xanh đã được đề xuất từ những thập niên 1980 và 1990. Báo cáo Brundtland (World Commission on Environment and Development, 1987) tuy không sử dụng cụm từ “kinh tế xanh” hay “tăng trưởng xanh”, nhưng đã nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và sự công bằng xã hội. Trong đó, tăng trưởng kinh tế không được đánh đổi bằng việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên và làm tổn hại môi trường. Đồng thời, kêu gọi các quốc gia hợp tác để giải quyết các vấn đề môi trường và phát triển toàn cầu nhằm bảo đảm sự phát triển lâu dài, bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.
Ở Việt Nam, từ góc độ quản lý kinh tế, quá trình chuyển đổi xanh là con đường tất yếu giúp quốc gia giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và tạo ra các ngành nghề mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời đảm bảo công bằng xã hội. Tăng trưởng xanh hay kinh tế xanh nên là một nội dung cốt lõi của phát triển bền vững. Đây là một mục tiêu chiến lược quốc gia và được cụ thể hóa bằng các văn bản như: Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu; Quyết định số 1658/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050. Mục tiêu là xây dựng nền kinh tế xanh, phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và tăng cường vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Để góp phần tìm hiểu sâu hơn về vấn đề chuyển đổi xanh và đưa ra những gợi ý chính sách cho Việt Nam, bài viết phân tích một số kinh nghiệm điển hình tại một số quốc gia phát triển kinh tế xanh ở những phạm vi, góc độ khác nhau.
KINH NGHIỆM CHUYỂN ĐỔI XANH TỪ MỘT SỐ NƯỚC
Lồng ghép phát triển du lịch sinh thái, phát triển kinh tế xanh và giảm nghèo ở một số quốc gia đang phát triển
Du lịch sinh thái được xem như một trong những con đường phát triển kinh tế theo xu hướng xanh, đồng thời tác động tích cực đến giảm nghèo. Do vậy, có thể coi du lịch sinh thái như một trong những ngành kinh tế quan trọng để thúc đẩy phát triển bền vững cả về xã hội, kinh tế và môi trường. Liên hợp quốc khẳng định: “kinh tế xanh là một trong những công cụ quan trọng cung cấp cho những lựa chọn chính sách để đạt mục tiêu phát triển bền vững”, “nó góp phần giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, tăng cường hòa hợp xã hội, cải thiện phúc lợi và tạo nhiều cơ hội việc làm tử tế cho mọi người, trong khi vẫn duy trì các hoạt động lành mạnh của hệ sinh thái” (United Nations, 2013). Hay nói cách khác, du lịch sinh thái đã mang lại cả 3 mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của phát triển bền vững mà thông qua đó đem lại lợi ích cho người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương, làm giảm bất bình đẳng xã hội. Du lịch sinh thái bao gồm 3 cấu phần: (i) du lịch dựa vào thiên nhiên; (2) giáo dục hay nhận thức; (3) sự bền vững về môi trường, kinh tế và xã hội. Trong thực tế, hoạt động này được rất nhiều nước áp dụng, Vanuatu, Thái Lan và Ecuador đại diện cho các nền kinh tế có đặc điểm khác nhau.
Vanuatu là quốc đảo (nằm trên biển Nam Thái Bình Dương) hiện có 16 cộng đồng người bản địa liên kết thành mạng lưới để bảo vệ vùng đất của cộng đồng với diện tích hơn 3.000 ha. Mạng lưới này chăm lo việc bảo tồn sinh học và phát triển du lịch sinh thái để giảm nghèo cho người dân địa phương. Họ cung cấp dịch vụ lưu trú ở cùng người dân (home-stay) và bảo tồn rùa biển. Mỗi du khách đến đây sẽ tham gia cùng với cộng đồng trong chương trình nuôi và thả rùa về biển với một khoản phí nhỏ. Nguồn thu này chính là thu nhập của cư dân khi họ tham gia vào chương trình chăm sóc rùa biển trước khi thả về thiên nhiên. Theo đánh giá của các cơ quan giám sát chương trình, thu nhập của người dân đã tăng gấp đôi so với hoạt động đánh bắt truyền thống của họ.
Ở Ecuador, chương trình kết hợp nghỉ dưỡng và bảo tồn thiên nhiên Kapawi từ năm 2008 mở ra cơ hội để người dân bản địa cung cấp chỗ ở, hướng dẫn du khách tham quan cộng đồng, du lịch mạo hiểm, du lịch văn hóa và ngắm cảnh thiên nhiên. Ngoài ra, các hoạt động du lịch này thúc đẩy cơ hội việc làm cho các ngành nghề khác như làng nghề thủ công mỹ nghệ và dịch vụ ăn uống. Những hoạt động này đã góp phần vào thành công trong việc xóa nghèo của các hộ gia đình tham gia, đồng thời bảo tồn được hơn 618.000 ha đất xung quanh các khu nghỉ dưỡng.
Koh Yao Noi (một hòn đảo nằm ở tỉnh Phang Nga, miền Nam Thái Lan) có một câu lạc bộ du lịch sinh thái dựa vào cộng động ra đời từ năm 1995 nhằm đảo ngược các tác động tiêu cực lên môi trường và xã hội do hoạt động đánh bắt cá thương mại quy mô lớn gây ra. Câu lạc bộ này cung ứng chỗ trọ, những chuyến đi câu cá và yêu cầu chính quyền thực thi các luật bảo vệ tài nguyên và quyền lợi của cộng đồng. Câu lạc bộ đem lại thu nhập trực tiếp và gián tiếp cho hơn 4.000 hộ gia đình tham gia chương trình. Khoảng 10% thu nhập từ các hoạt động này được nộp lại để làm quỹ tài trợ cho các sáng kiến bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng. Nhờ có câu lạc bộ Koh Yao Noi, việc tham gia các hoạt động cộng đồng và sự phối hợp của người dân đã tăng lên, tăng cường tiếng nói của giới trẻ, phụ nữ và cộng đồng thiểu số địa phương. Nhận thức và trách nhiệm về môi trường của người dân địa phương và du khách đã tăng lên nhờ vào việc tăng cường khả năng quản lý tài nguyên.
Có thể thấy, việc phát triển mô hình du lịch sinh thái khi áp dụng vào điều kiện cụ thể cần phải được thiết kế và điều chỉnh để phù hợp với điều kiện cụ thể. Tuy nhiên, sự thành công của các mô hình này đều có các điểm chung, đó là: Sự cam kết và phối hợp; Quy trình chia sẻ lợi ích minh bạch; và có kế hoạch thích hợp. Các yếu tố này tồn tại xuyên suốt từ quá trình thiết kế đến thực hiện các sáng kiến du lịch sinh thái (UNDP, 2015).
Lồng ghép vấn đề việc làm, môi trường và giảm nghèo ở Nam Phi
Nam Phi là nền kinh tế lớn nhất châu Phi hiện nay và thuộc nhóm nước thu nhập trung bình cao với GDP bình quân đầu người năm 2024 là 6523 USD (giá hiện hành). Sau thời kỳ phân biệt chủng tộc cuối thế kỷ 20, sang thế kỷ 21, Nam Phi đã có những chuyển biến trong chính sách phát triển kinh tế, đặc biệt là gắn tăng trưởng với bảo vệ môi trường và giảm nghèo thông qua các Chương trình Việc làm khu vực công (Public Employment Programmes). Sáng kiến này bắt đầu vào năm 2004, được tiếp tục điều chỉnh và kéo dài cho đến hiện nay. Chúng bao gồm 5 chương trình như sau: Bảo vệ môi trường nước; Bảo vệ vùng đất ngập nước; Kiểm soát phòng ngừa hỏa hoạn; Quản lý bờ biển; và Quản lý rác thải.
Chương trình bảo vệ môi trường nước nhằm kiểm soát các loại thực vật ngoại lai xâm lấn vì chúng làm suy giảm nguồn nước, sự đa dạng sinh học và giảm vùng đồng cỏ cho gia súc. Chương trình bảo vệ vùng đất ngập nước nhằm phục hồi các vùng đất đã bị bạc màu, xây dựng kè chống sạt lỡ, trồng lại các loại hoa màu và lắp đặt hệ thống tưới nước. Hai chương trình này có điểm tương đồng là loại trừ các loài thực vật xâm lấn, giữ gìn nguồn nước và phát triển các loại thực vật nội địa có lợi. Chương trình kiểm soát hỏa hoạn nhằm ngăn chặn nguy cơ cháy, tầm soát các nguồn gây cháy và phục hồi tổn thương do hỏa hoạn. Chương trình quản lý bờ biển bao gồm nâng cấp lối đi, làm sạch và phục hồi đường đi bộ ven biển, ươm trồng cây và phục hồi các cồn cát. Cuối cùng, chương trình quản lý rác thải bao gồm: việc dọn dẹp và loại bỏ rác thải tại công viên, sông ngòi, nghĩa trang, bãi biển, đường phố, khu bảo tồn đường bộ, vỉa hè, ống thoát nước mưa và cống rãnh, sân thể thao, sân vận động, khu nghỉ dưỡng, trường học, nhà vệ sinh công cộng và khu định cư tự phát; phủ xanh và cắt cỏ tại các khu vực công cộng; phát quang bụi rậm; tái chế và ủ phân; cải tạo các trạm trung chuyển; bảo trì các khu đất. Các chương trình này hàng năm cần khoản đầu tư của chính phủ không quá lớn. Trong năm tài khóa 2012-2013, chương trình đã thu hút 250 triệu USD đầu tư, trong đó nguồn từ Chính phủ Nam Phi chiếm hơn 95% (UNDP, 2015).
Tuy vốn đầu tư không nhiều nhưng những kết quả đạt được từ chương trình này rất có ý nghĩa về mặt kinh tế, xã hội trong bối cảnh quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp và nghèo cao như Nam Phi. Cụ thể:
- Hàng năm có khoảng 100.000 lao động được thuê mướn (tương đương với 35000 lao động làm việc toàn thời gian) từ chương trình này, trong đó 51% là phụ nữ, tỷ lệ lao động trẻ chiếm 56%. Trung bình mỗi năm, số ngày lao động được thuê mướn quy đổi là 84 ngày với thu nhập khoảng 750 USD/ năm, với mức lương trung bình khoảng 8 USD/ngày lao động, tương tương với mức cao nhất của nhóm 20% thu nhập thấp nhất (tứ phân vị thứ nhất) (năm 2012, 2013). Điều này có ý nghĩa to lớn vì nó đã tạo ra nguồn sinh kế cho người nghèo, giúp giảm nghèo và bất bình đẳng xã hội. Rõ ràng, việc giảm nghèo cần thực hiện thông qua nhiều kênh tác động khác nhau. Do vậy, chương trình này nếu được kết hợp với những chương trình giảm nghèo khác sẽ làm tăng hiệu quả của chính sách, nhanh chóng cải thiện sinh kế và thu nhập cho người nghèo.
- Việc cải thiện môi trường sinh thái được xác nhận rõ ràng. Nó được đo lường bằng số lượng héc-ta đất được làm sạch, không còn các loài thực vật xâm lấn nguy hại. Quan trọng hơn, tiềm năng về việc làm xanh có xu hướng tăng lên, đến năm 2017 đã có khoảng 100.000 lao động toàn thời gian (gần gấp 3 lần sau 5 năm) và tăng lên 230.000 vào năm 2025. Bên cạnh đó, chương trình này đã tạo ra nguồn năng lượng từ khí sinh học (biogas) đã thúc đẩy xu hướng tiêu dùng năng lượng sạch và đem lại lợi ích kinh tế cho người sử dụng. Theo ước tính của các chuyên gia tư vấn, việc lấp đặt hệ thống biogas đem lại tương đương 720 mW và đã tạo thêm 50.000 việc làm hàng năm.
Một trong những bài học rút ra từ thành công của các Chương trình Việc làm khu vực công là sự nhất quán, tính chuyên nghiệp của đội ngũ lãnh đạo. Đội ngũ này cần phải được đào tạo chuyên nghiệp, có những kinh nghiệm quý báo trong việc vận hành các chương trình công cộng và có sự phối hợp chặt chẽ với nhau. Mỗi chương trình có mục tiêu rõ ràng, có thể thực hiện và đánh giá được, tránh đặt ra những mục tiêu quá lớn, khó thực hiện.
Lồng ghép mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
Các nước thành viên OECD đã triển khai nhiều chính sách hướng đến phát triển bền vững, trong đó việc lồng ghép tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường là một mục tiêu ưu tiên. Một trong những lý do quan trọng nhất của việc lồng ghép này là những rủi ro về môi trường sẽ làm suy giảm tăng trưởng cũng như chất lượng sống của người dân. Lồng ghép các mục tiêu môi trường và tăng trưởng nhằm tạo ra một khung chính sách nhất quán cho cả ngắn hạn và dài hạn để từ đó đưa ra các quyết sách về phát triển bền vững. Chính sách tài khóa và các quy định được thiết kế tốt để phục vụ tăng trưởng như thuế và chính sách cạnh tranh sẽ giúp quốc gia cải thiện việc phân bổ các nguồn lực. Đồng thời chính sách này cũng sẽ dần tách những hoạt động kinh tế khỏi sự xuống cấp môi trường và khai mở những nguồn lực mới cho tăng trưởng xanh. Thách thức lớn nhất cho vấn đề kết hợp này là các nguyên lý kinh tế cốt lõi phải được định vị trong một khung phân tích dài hạn mà nó tính đến giá trị tài nguyên một cách đầy đủ như là một tiêu chuẩn bắt buộc của tăng trưởng và tính đến hiệu quả
- chi phí để giải phóng những áp lực lên môi trường và tránh sự đánh đổi giữa môi trường với tăng trưởng (OECD, 2015). Việc xác định chiến lược tăng trưởng xanh cũng đòi hỏi phải khảo sát và phân tích được những hạn chế về nguồn lực kinh tế hiện tại hoặc những méo mó trong kết quả mang lại từ quá trình đầu tư xanh để tìm cách chấn chỉnh, không để chúng trở thành rào cản của quá trình chuyển đổi.
Bước tiếp theo chính là việc thiết kế các chính sách mà trong đó ô nhiễm môi trường phải được định giá, đồng thời tạo động lực cho việc sử dụng hiệu quả tài nguyên. OECD cho rằng, việc định giá cần phải có các công cụ như hệ thống trao đổi thương mại (như tín chỉ carbon) và thuế để thúc đẩy các hành động nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường với chi phí thấp nhất. Song song đó, việc kết hợp với các chính sách như đầu tư xanh và đổi mới sáng tạo xanh cũng sẽ góp phần làm tăng hiệu quả của chính sách thuế liên đến bảo vệ môi trường (OECD, 2013). Tuy vậy, OECD nhấn mạnh, trong một số trường hợp, chính sách định giá ô nhiễm tỏ ra không phù hợp như việc đưa ra các quy định điều kiện tiêu chuẩn về xả thải. Các tiêu chuẩn kỹ thuật này có thể thúc đẩy tăng trưởng xanh thông qua những đề xuất các chuẩn mực để cải thiện việc sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn. Mặc dù các quy định có thể có cần nguồn kinh phí cao hơn so với hệ thống định giá ô nhiễm, nhưng nó rất cần để thúc đẩy quá trình chuyển đổi ở các quốc gia mà cử tri có xu hướng chống lại hệ thống định giá hoặc một số lĩnh vực không phản ứng với giá cả.
Việc trợ cấp để sử dụng các công nghệ mới làm dịch chuyển khuynh hướng sản xuất và tiêu dùng thân thiện môi trường hơn. Điều rõ ràng là để từng bước xanh hóa tăng trưởng thì trước hết cần phải xóa bỏ các trợ cấp cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên gây hại môi trường như các sản phẩm có nguồn gốc từ dầu mỏ.
Chính quyền các cấp cũng cần có những thông tin hướng dẫn, tuyên truyền liên quan tới hành vi tiêu dùng. Những giải pháp thông tin này tăng cường sự phản ứng của các nhà sản xuất và người tiêu dùng đối với hệ thống định giá ô nhiễm bằng cách chỉ ra những tác động tiêu cực đến môi trường của các hoạt động kinh tế hiện có cũng như hiệu quả tích cực trong dài hạn của tiêu dùng xanh và sự sẵn sàng của các lựa chọn tiêu dùng sạch hơn.
GỢI MỞ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Đánh giá được những tác động cộng gộp và sự đánh đổi lợi ích của phát triển xanh
Một là, đánh giá được tác động có lợi và bất lợi của hoạt động kinh tế xanh mà du lịch sinh thái là một trường hợp cụ thể. Về mặt môi trường, du lịch sinh thái một mặt đã nâng cao khả năng bảo tồn các khu sinh quyển, hệ sinh thái và môi trường thiên nhiên như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên, nó cũng có những tác động tiêu cực như sự can thiệp của con người vào môi trường tự nhiên, hoạt động du lịch cũng gây ô nhiễm môi trường từ các phương tiện giao thông, rác thải do du khách để lại. Một số cộng đồng địa phương thu hút số lượng lớn du khách sẽ gây ra tình trạng quá tải, khai thác quá mức nguồn lực tại chỗ dẫn đến sự kém bền vững.
Về mặt kinh tế - xã hội, gia tăng sự tham gia và phối hợp giữa các bên liên quan giúp cải thiện sinh kế và thu nhập cho các thành viên tham gia như tiền lương của người lao động, thu nhập từ hoạt động cung ứng hàng hóa và dịch vụ địa phương, tăng thu nhập cho cộng đồng và lợi nhuận cho các doanh nghiệp. Tuy vậy, những xung đột lợi ích giữa các bên tham gia luôn là một nguy cơ tiềm ẩn. Nếu quá trình phát triển này hạn chế sự tham gia và chia sẻ lợi ích của người nghèo và các cộng động thiểu số thì sẽ đào sâu thêm khoảng cách giàu nghèo, không cải thiện được đời sống người dân địa phương, từ đó sẽ dẫn đến nguy cơ đổ vỡ, xung đột của mô hình phát triển xanh. Do vậy, việc phát triển mô hình du lịch sinh thái cần phát huy vai trò và sức mạnh của cộng đồng và người dân địa phương trong việc phối hợp và phân chia lợi ích của các cá nhân, tổ chức tham gia. Điều này cần phải có nguồn quỹ phúc lợi chung để đầu tư phát triển nguồn nhân lực tại chỗ như nâng cao trình độ học vấn, tay nghề và sức khỏe của lao động địa phương, đặc biệt là người nghèo để họ tự tin hơn trong quá trình tham gia phát triển cộng đồng, nâng cao sinh kế và thu nhập, tham gia chủ động vào quá trình chia sẻ lợi ích từ du lịch sinh thái.
Hai là, vai trò và sự phối hợp giữa các bên liên quan cần được xác định rõ ràng, tuân thủ những cam kết chung. Chính quyền địa phương giữ vai trò cực kỳ quan trọng, vừa là người thiết kế và vừa thực thi chính sách, ủng hộ sự phát triển cộng đồng địa phương. Chính quyền còn với vai trò là người điều phối lợi ích để đảm bảo sự hài hòa, quyền lợi giữa các bên liên quan, đặc biệt là nhóm yếu thế. Khu vực doanh nghiệp tư nhân, trong đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nhà cung ứng dịch vụ chủ yếu, hỗ trợ người dân địa phương trong việc thiết kế các sản phẩm truyền thống phục vụ du lịch. Các tổ chức phi chính phủ giữ vai trò hỗ trợ bằng cách đưa ra các sáng kiến du lịch sinh thái, cung cấp tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật. Người dân địa phương, đặc biệt là người nghèo, rất cần được tham gia vào các khâu khác nhau trong chuỗi hoạt động kinh tế xanh như cung ứng sản phẩm, dịch vụ và lao động bao gồm lao động có kỹ năng và lao động chân tay, tạm thời. Các tổ chức cộng đồng địa phương phát triển các sản phẩm sở hữu chung của cộng đồng, thương lượng việc phân chia lợi ích của những cá thể bên trong và những người tham gia từ bên ngoài, chịu trách nhiệm thu chi và phân phối lợi ích kinh tế từ các hoạt động chung này.
Kết hợp mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
Từ kinh nghiệm của các nước OECD về chuyển đổi xanh có thể thấy không có một mô hình khuôn mẫu nào là phù hợp hoàn toàn cho tất cả các quốc gia với những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội… rất khác nhau. Tuy nhiên, để tiến đến nền kinh tế xanh thì vấn đề bảo vệ môi trường cần phải được đặt vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế. Do đó, Việt Nam cần:
Thứ nhất, xác định tăng trưởng xanh là một mục tiêu xuyên suốt, không phải là một lựa chọn đánh đổi.
Kinh nghiệm từ các nước OECD cho thấy việc lồng ghép này tạo ra một khung chính sách nhất quán, giúp giải quyết các rủi ro môi trường ngay từ đầu, thay vì phải khắc phục hậu quả. Để thực hiện điều này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành như: Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Vai trò của các bộ này cần được xác định ngang nhau trong việc hoạch định và thực thi chiến lược phát triển quốc gia. Đây là một thách thức về mặt thể chế, nhưng là bước đi cốt lõi để đảm bảo các chính sách kinh tế không mâu thuẫn với mục tiêu bảo vệ môi trường.
Thứ hai, sử dụng công cụ kinh tế để định giá ô nhiễm. Các nước OECD nhấn mạnh việc định giá ô nhiễm là động lực mạnh mẽ để thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng. Việt Nam có thể từng bước áp dụng các công cụ như thuế môi trường, phí xả thải, tập trung vào các ngành công nghiệp gây ô nhiễm cao. Thay vì ngay lập tức triển khai các hệ thống phức tạp như giao dịch tín chỉ carbon, Việt Nam có thể bắt đầu với những chính sách thuế đơn giản và dễ quản lý hơn, sau đó nâng cấp dần. Việc này cần được thực hiện song song với các chính sách hỗ trợ đầu tư và đổi mới công nghệ xanh, giúp các doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính và kỹ thuật để chuyển đổi.
Thứ ba, kết hợp linh hoạt giữa công cụ kinh tế và quy định. Mặc dù, công cụ định giá là hiệu quả, nhưng như OECD đã chỉ ra, quy định kỹ thuật vẫn rất cần thiết, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển nơi thị trường chưa hoàn toàn phản ứng với giá cả hoặc nhận thức của công chúng còn hạn chế. Việt Nam nên xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật về xả thải, hiệu suất sử dụng năng lượng và tiêu chuẩn sản phẩm thân thiện môi trường. Các quy định này vừa tạo ra một khuôn khổ pháp lý vững chắc, vừa thúc đẩy các doanh nghiệp cải thiện công nghệ và quy trình sản xuất.
Thứ tư, tăng cường vai trò của chính quyền trong việc cung cấp thông tin và tuyên truyền về lợi ích của tiêu dùng xanh. Các chiến dịch truyền thông về tác động tiêu cực của các hoạt động kinh tế hiện tại và lợi ích dài hạn của tiêu dùng bền vững sẽ giúp tăng cường sự phản ứng tích cực của người tiêu dùng và nhà sản xuất đối với các chính sách môi trường. Việc này sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi để quá trình chuyển đổi xanh diễn ra một cách tự nguyện và hiệu quả hơn.
Lồng ghép các chính sách tài khóa phục vụ tăng trưởng xanh với các chương trình giảm nghèo
Chính sách tài khóa cần có những đánh giá chi tiết hơn về những thách thức đối với nhóm dễ bị tổn thương do chuyển đổi xanh. Chẳng hạn, những người nghèo thành thị thường sử dụng nhiên liệu gây ô nhiễm cao như các loại than hay dầu hỏa để làm chất đốt. Nên chính sách đánh thuế lên các loại nhiên liệu này làm gia tăng gánh nặng cho người thu nhập thấp, người nghèo. Đối với các hộ sản xuất nhỏ có máy móc thiết bị sử dụng động cơ diesel, việc đánh thuế cao trên thiết bị và nguyên liệu đầu vào sẽ tăng thêm chi phí sản xuất và giảm khả năng đầu tư và cạnh tranh của họ so với các doanh nghiệp lớn được trợ cấp, ưu đãi khi sử dụng công nghệ xanh.
UNDP cho rằng, việc thiết kế chính sách thay thế đảm bảo được quyền lợi của các nhóm yếu thế là rất quan trọng. Để đảm bảo được thiết kế chính sách có thể thực thi được, Chính phủ cần đánh giá bối cảnh và xu hướng chuyển dịch của môi trường kinh tế vĩ mô, cả trong nước và ngoài nước. Việc khuyến khích sử dụng các công nghệ sạch và hiệu quả hơn có thể không thành công nếu không hiểu được thực trạng của nền kinh tế, chất lượng tăng trưởng và năng suất lao động. Trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, từ góc độ sản xuất, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ chiếm phần lớn thì việc chuyển đổi công nghệ sản xuất là một thách thức lớn bởi vì các doanh nghiệp nhỏ và vừa hạn chế về khả năng đầu tư, đổi mới công nghệ.
Tài liệu tham khảo:
- OECD (2013). Effective Carbon Prices, OECD Publishing, Paris.
- OECD (2015). Towards Green Growth? Tracking Progress, OECD Green Growth Studies, OECD Publishing, Paris.
- OECD (2024). Green Finance and Investment. https://www.oecd.org/en/publications/green-finance-and-investment_24090344 html.
- Phan Văn Phúc (2022). Tiếp cận chuyển đổi sinh thái - xã hội: Lý thuyết liên ngành cho phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 58(SDMD), 134-141.
- UN Environment Programme (UNEP) (2020). Green Economy. https://www.unep.org/regions/asia-and-pacific/regional- initiatives/supporting-resource-efficiency/green-economy.
- United Nations (2013). The future we want: resolution/adopted by the General Assembly. https://digitallibrary.un.org/ record/734344?v=pdf.
- UNDP (2015). Towards green and inclusive prosperity: Building green economies that deliver on poverty reduction. https://www.undp.org/sites/g/files/zskgke326/files/publications/Towards%20Green%20and%20inclusive%20 prosperity.pdf.
- World Commission on Environment and Development (1987). Our common future. Oxford University Press.
| Ngày nhận bài: 22/12/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 29/01/2026; Ngày duyệt đăng: 02/02/2026 |

