Hơn 3 nghìn tỷ đồng được bảo vệ nhờ “lá chắn số” SIMO

Hiệu quả của dữ liệu số được minh chứng rõ nét qua Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng (SIMO) được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã triển khai thí điểm, tính đến hết ngày 14/1/2026, có hơn 2,6 triệu lượt khách hàng nhận được cảnh báo, trong đó có hơn 831 nghìn lượt khách hàng đã tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận cảnh báo với tổng số tiền giao dịch tương ứng là gần 3,06 nghìn tỷ đồng.

Thực hiện Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 6/1/2022: Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030), ngành Ngân hàng xác định dữ liệu dân cư là "nguồn tài nguyên vàng" để làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu ngành. Công tác làm sạch dữ liệu được phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, đảm bảo dữ liệu luôn "đúng, đủ, sạch, sống".

Dữ liệu là chìa khóa kết nối hệ sinh thái số

Trong giai đoạn 2022 – 2025, NHNN đã ban hành 6 kế hoạch thực hiện Đề án 06 và hơn 21 văn bản chỉ đạo thực hiện. Trong việc rà soát, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật để ứng dụng định danh điện tử (VNeID) trong công tác chuyển đổi số, NHNN đã hoàn thành triển khai từ năm 2024.

Về kết nối Cơ sở Dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDC), NHNN đã triển khai hệ thống kết nối, khai thác CSDLQGvDC cho hệ thống dịch vụ công trực tuyến (cấp chứng thư số) từ tháng 12/2022.

Bên cạnh đó, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT: nghiên cứu, ứng dụng dữ liệu về dân cư, căn cước công dân (CCCD) gắn chíp, tài khoản định danh và xác thực điện tử (VneID) để làm sạch dữ liệu, nhận biết, xác minh chính xác khách hàng nhằm phòng chống, ngăn ngừa việc tội phạm mạo danh, sử dụng giấy tờ tùy thân giả mạo đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng cho mục đích bất hợp pháp; đồng thời nghiên cứu ứng dụng dữ liệu dân cư trong triển khai các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thuận tiện, an toàn nhất đến với người dân, khách hàng.

Về phía các tổ chức tín dụng (TCTD), trung gian thanh toán (TGTT) thực hiện Kế hoạch triển khai Đề án 06 của ngành Ngân hàng và Kế hoạch phối hợp giữa Bộ Công an và NHNN, nhiều TCTD, TGTT đã và đang phối hợp với C06 (Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội thuộc Bộ Công an) triển khai mở rộng giải pháp xác thực khách hàng qua thẻ CCCD gắn chíp và triển khai giải pháp xác thực khách hàng qua ứng dụng VNeID trong việc mở tài khoản và sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử.

Tính đến hết ngày 9/1/2026, cả ngành Ngân hàng đã có hơn 143,9 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân được đối chiếu thông tin sinh trắc học; hơn 1,5 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học.

57 TCTD và 39 tổ chức TGTT đã triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắp chip qua ứng dụng điện thoại. 63 TCTD đã triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắn chip qua thiết bị tại quầy. 32 TCTD và 15 TGTT đang triển khai ứng dụng VNeID.

simo.png

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Về làm sạch dữ liệu qua C06 (Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội thuộc Bộ Công an): có 29 TCTD đã ký kết với C06 để triển khai làm sạch dữ liệu khách hàng mở tài khoản thanh toán; 11 tổ chức TGTT đã ký kết với C06 để triển khai làm sạch dữ liệu khách hàng mở tài khoản thanh toán; 29 ngân hàng và 4 TGTT đã triển khai liên kết tài khoản phục vụ chi trả an sinh xã hội thông qua ứng dụng VNeID.

Dữ liệu còn là chìa khóa kết nối hệ sinh thái số. Các ngân hàng đã và đang xây dựng hệ sinh thái tích hợp đa dịch vụ, với người dùng là trung tâm, kết nối với Cổng DVCQG và các ngành, lĩnh vực, hệ sinh thái ngoài ngân hàng để cung ứng dịch vụ một cách liền mạch, tiện ích cho khách hàng.

Về hạ tầng dữ liệu, NHNN là một trong những bộ, ngành hoàn thành sớm nhiệm vụ đồng bộ 100% cơ sở dữ liệu chuyên ngành được giao lên Trung tâm dữ liệu quốc gia theo Nghị quyết 71/NQ-CP (Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia). NHNN còn chủ động xây dựng các API chia sẻ dữ liệu liên thông với Văn phòng Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước qua nền tảng NDXP (Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia), góp phần tạo nên một hệ sinh thái dữ liệu mở và hiệu quả cho cả hệ thống chính trị.

Hiệu quả của dữ liệu số được minh chứng rõ nét qua Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng (SIMO) của NHNN đã triển khai thí điểm, đến hết ngày 14/1/2026, có hơn 2,6 triệu lượt khách hàng nhận được cảnh báo, trong đó có hơn 831 nghìn lượt khách hàng đã tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận cảnh báo với tổng số tiền giao dịch tương ứng là gần 3,06 nghìn tỷ đồng.

Có thể nói, Đề án 06 có tác động mạnh mẽ đến ngành Ngân hàng, giúp xác thực danh tính khách hàng hiệu quả hơn, từ đó làm sạch dữ liệu, loại bỏ tài khoản ảo, tăng cường an toàn phòng chống lừa đảo, thúc đẩy thanh toán không tiền mặt, góp phần kiến tạo hệ sinh thái tài chính số, mang lại tiện ích lớn cho người dân và doanh nghiệp. Ngân hàng cũng là ngành tiên phong ứng dụng dữ liệu dân cư để nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo mật, góp phần phát triển kinh tế số, xã hội số.

Tiến đến ra quyết định dựa trên dữ liệu

Bên cạnh những kết quả nêu trên, thực tiễn công tác triển khai Đề án 06 cũng như quá trình số hóa ngân hàng cũng có những thách thức. Dữ liệu còn phân tán, phân mảnh, chất lượng chưa đồng đều, chuẩn hóa còn chậm, chia sẻ, liên thông chưa thông suốt, chưa có sự đồng bộ và chuẩn hóa cơ sở hạ tầng giữa các ngành, lĩnh vực để tạo điều kiện thuận tiện nhất cho việc kết nối, tích hợp tạo lập hệ sinh thái số.

Xu hướng gia tăng tội phạm công nghệ với những thủ đoạn mới ngày càng tinh vi, khó lường, gia tăng rủi ro an ninh mạng. Nguồn nhân lực chất lượng cao, có kinh nghiệm, có kiến thức về nghiệp vụ và công nghệ phục vụ chuyển đổi số còn thiếu.

Thời gian tới, để triển khai hiệu quả Đề án 06, thúc đẩy quá trình số hóa dịch vụ ngân hàng, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của chuyển đổi số quốc gia, ngành Ngân hàng cần tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngành Ngân hàng đảm bảo an ninh, an toàn, chú trọng việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung ngành Ngân hàng tiến đến ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh kết nối CSDLQGvDV, khai thác nguồn dữ liệu hiện có nhằm đổi mới căn bản phương thức thiết kế, phát triển và cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng theo hướng cá thể hóa, tiện ích, phù hợp với nhu cầu và hành vi của từng nhóm khách hàng; đồng thời nâng cao năng lực cảnh báo sớm, phát hiện và phòng ngừa gian lận, tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật thông tin và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng.

Các TCTD, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT cần tiếp tục đẩy nhanh tiến độ triển khai tích hợp ứng dụng VNeID để tạo sự tiện lợi cho khách hàng trong quá trình cung ứng dịch vụ; làm sạch, xác thực kết nối dữ liệu chuyên ngành với CSDLQGvDC, giảm thiểu tài khoản rác, ví điện tử rác; tiến tới ứng dụng dữ liệu từ CSDLQGvDC trong đánh giá khách hàng vay của TCTD (xây dựng, hoàn thiện giải pháp chấm điểm khả tín); tiếp tục triển khai phối hợp liên ngành: tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác góp phần hình thành hệ sinh thái số liên thông, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ nhanh chóng, an toàn, hiệu quả.

 
Lượt xem: 1
Nguồn:thitruongtaichinhtiente.vn Sao chép liên kết