![]() |
| Quang cảnh Toạ đàm. |
Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho tăng trưởng xanh, cần có sự tham gia đồng bộ của nhiều kênh dẫn vốn, cùng với các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ từ phía Nhà nước.
Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, tăng trưởng xanh không phải là khái niệm mới, nhưng yêu cầu về “xanh” ngày càng cao và cụ thể hơn theo từng giai đoạn phát triển của kinh tế thế giới. Tại Việt Nam, định hướng này đã được đặt ra từ sớm, với Chiến lược tăng trưởng xanh giai đoạn 2011-2020 và tiếp tục được cụ thể hóa trong giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, nhu cầu về nguồn lực là rất lớn. Trong đó, tín dụng ngân hàng đóng vai trò đặc biệt quan trọng khi tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam ở mức cao, cho thấy hệ thống ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế.
Nhận thức rõ vai trò này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tham gia thúc đẩy tín dụng xanh từ khá sớm. Ngay từ năm 2015, cơ quan này đã ban hành các văn bản định hướng, yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng cường cấp tín dụng cho các lĩnh vực thân thiện với môi trường, đồng thời lồng ghép quản lý rủi ro môi trường - xã hội vào hoạt động cho vay.
Song song với định hướng chính sách, NHNN cũng chỉ đạo triển khai các chương trình tín dụng cụ thể. Một trong những ví dụ là chương trình tín dụng hỗ trợ phát triển 1 triệu hecta lúa phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long, với lãi suất thấp hơn khoảng 1% so với thông thường, qua đó vừa giảm chi phí sản xuất, vừa góp phần giảm phát thải.
![]() |
| Bà Phạm Thị Thanh Tùng – Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN. |
Đáng chú ý, khung pháp lý về quản lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động tín dụng cũng từng bước được hoàn thiện. Nếu như trước đây chủ yếu mang tính khuyến khích, thì sau khi Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực, các yêu cầu này đã được luật hóa, buộc 100% tổ chức tín dụng phải xây dựng quy trình kiểm soát rủi ro đối với các dự án có tác động tiêu cực đến môi trường.
Theo Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, sau hơn một thập kỷ triển khai, nhận thức và hành động của các tổ chức tín dụng đã có chuyển biến rõ rệt. Nếu năm 2017 chỉ có 15 tổ chức tín dụng tham gia cho vay xanh, thì đến nay con số này đã tăng lên 78. Dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 780.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 4,2% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 22-23% mỗi năm.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, dù nguồn vốn đã được chuẩn bị, khả năng hấp thụ của doanh nghiệp vẫn là điểm nghẽn lớn. Chia sẻ tại tọa đàm, TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường đào tạo cán bộ, Phó Trưởng ban chỉ đạo ESG của Agribank cho biết, ngay từ cuối năm 2016, Agribank đã triển khai chương trình cho vay nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao với quy mô 50.000 tỷ đồng, lãi suất thấp hơn từ 0,5-1,5% so với mức thông thường. Bên cạnh đó, ngân hàng còn tham gia các chương trình lớn như dự án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp với gói tín dụng 30.000 tỷ đồng; các gói tín dụng hạ tầng điện, giao thông quy mô 60.000 tỷ đồng; cũng như các sản phẩm tín dụng phục vụ tiêu dùng xanh.
Dù vậy, theo đại diện Agribank, từ năm 2017 đến nay, số doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện vay vốn xanh vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân trước hết đến từ phía doanh nghiệp khi nhiều đơn vị còn e ngại chi phí đầu tư lớn, trong khi các dự án xanh thường có thời gian thu hồi vốn dài. Bên cạnh đó, các yêu cầu về chứng nhận “xanh” và thủ tục liên quan cũng là rào cản đáng kể.
Về phía ngân hàng, áp lực cũng không nhỏ. TS. Nguyễn Thị Thu Hà cho biết, đối với các chương trình hỗ trợ lãi suất, ngân hàng phải ứng vốn trước, sau đó mới hoàn tất thủ tục hoàn trả, trong khi quy trình hồ sơ còn phức tạp. Đồng thời, trách nhiệm đối với các khoản vay xanh cũng cao hơn so với tín dụng thông thường.
Từ góc độ doanh nghiệp, bà Đỗ Kim Tuyến, Giám đốc tài chính An Việt Group cho biết, chuyển đổi xanh không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu môi trường mà còn giúp tối ưu chi phí, nâng cao hiệu quả vận hành và tăng năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp đã triển khai các giải pháp tích hợp giữa công nghệ thông tin, nông nghiệp và thực phẩm, trong đó nổi bật là ứng dụng công nghệ sinh học xử lý ô nhiễm dầu. Việc phát triển phần mềm quản lý vận tải giúp kiểm soát hành trình theo thời gian thực, giảm tiêu hao nhiên liệu và tiết kiệm chi phí nhân lực.
Tuy nhiên, đại diện doanh nghiệp này cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là vốn. Chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là giá xăng dầu biến động mạnh, khiến doanh nghiệp chịu áp lực kép trong khi khả năng tiếp cận vốn còn hạn chế. Với các dự án công nghệ mới, dù hiệu quả rõ ràng, nhưng việc triển khai vẫn gặp khó khăn do thiếu nguồn lực tài chính.
![]() |
| TS. Phạm Phan Dũng, chuyên gia kinh tế năng lượng (Bộ Công Thương). |
Cũng về vấn đề này, TS. Phạm Phan Dũng, chuyên gia kinh tế năng lượng (Bộ Công Thương) cho rằng, chuyển đổi năng lượng không chỉ là yêu cầu môi trường mà còn là điều kiện để đảm bảo an ninh kinh tế và duy trì sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là nguồn lực tài chính.
Vì thế, theo TS. Dũng, để dòng vốn xanh phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ. Ngân hàng thương mại không thể đơn phương gánh vác vai trò hỗ trợ, đặc biệt là trong việc giảm lãi suất cho các dự án xanh. Việc hỗ trợ lãi suất cần đến từ ngân sách nhà nước, cùng với các cơ chế tài chính phù hợp.
Một trong những đề xuất được đưa ra là xây dựng Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, huy động nguồn vốn từ ngân sách và các tổ chức quốc tế, sau đó ủy thác qua hệ thống ngân hàng để giải ngân. Cách tiếp cận này vừa tận dụng được năng lực của ngân hàng, vừa giúp giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp. Thực tế, nhiều tổ chức tài chính quốc tế như WB và các quỹ khí hậu đã sẵn sàng cung cấp nguồn vốn hàng trăm triệu euro cho các chương trình như vậy.




