Tổng vốn đăng ký tăng mạnh, vốn thực hiện dẫn đầu 5 năm
Cụ thể, vốn đăng ký cấp mới có 1.576 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 14,84 tỷ USD, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và gấp 2,1 lần về số vốn đăng ký. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 9,64 tỷ USD, chiếm 65,0% tổng vốn đăng ký cấp mới; sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt 2,45 tỷ USD, chiếm 16,5%; các ngành còn lại đạt 2,75 tỷ USD, chiếm 18,5%.
![]() |
Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam 5 tháng đầu năm giai đoạn 2022-2026 (Tỷ USD). Nguồn: Cục Thống kê (Bộ Tài chính) |
Trong số 58 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong năm tháng đầu năm 2026, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 6,8 tỷ USD, chiếm 45,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 4,22 tỷ USD, chiếm 28,4%; Trung Quốc 1,79 tỷ USD, chiếm 12,1%; Nhật Bản 712,6 triệu USD, chiếm 4,8%; Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 397,3 triệu USD, chiếm 2,7%; Hà Lan 380,3 triệu USD, chiếm 2,6%.
Cũng theo Cục Thống kê, vốn đăng ký điều chỉnh có 415 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 5,78 tỷ USD, giảm 32,1% so với cùng kỳ năm trước.
Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn FDI đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 14,52 tỷ USD, chiếm 70,4% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt 2,45 tỷ USD, chiếm 11,9%; các ngành còn lại đạt 3,65 tỷ USD, chiếm 17,7%.
Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 1.164 lượt với tổng giá trị góp vốn 4,19 tỷ USD, tăng 46,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 336 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 565,3 triệu USD và 828 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 3,62 tỷ USD.
Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 1,9 tỷ USD, chiếm 45,4% giá trị góp vốn; hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đạt 1,16 tỷ USD, chiếm 27,7%; ngành còn lại 1,13 tỷ USD, chiếm 26,9%.
![]() |
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm tháng đầu năm giai đoạn 2022-2026 (Tỷ USD). Nguồn: Cục Thống kê (Bộ Tài chính). |
Xét về giá trị giải ngân triển khai thực hiện, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 9,75 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Theo Cục Thống kê, đây tiếp tục là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của năm tháng đầu năm trong 5 năm qua. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu, đạt 8,06 tỷ USD, chiếm 82,7% tổng vốn FDI thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 716,5 triệu USD, chiếm 7,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 356,6 triệu USD, chiếm 3,7%.
5 điểm nhấn trong bức tranh thu hút FDI
Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) nhận định, hoạt động thu hút ĐTNN vào Việt Nam trong các tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều rủi ro và biến động khó lường. Với mức tăng trưởng liên tục duy trì ở mức cao (tăng gần 35% trong 5 tháng đầu năm 2026) của tổng vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, và đặc biệt là vốn thực hiện liên tục giữ vững vị trí dẫn đầu cao nhất trong 5 năm trở lại đây, kết quả này cho thấy Việt Nam vẫn là điểm đến được nhà đầu tư nước ngoài quan tâm trong quá trình dịch chuyển, tái cấu trúc và đa dạng hóa chuỗi cung ứng.
Theo đánh giá của Cục Đầu tư nước ngoài, nhìn tổng quan, có 5 điểm nhấn đáng lưu ý trong bức tranh thu hút ĐTNN các tháng đầu năm.
Thứ nhất, vốn thực hiện tiếp tục tăng là tín hiệu tích cực. Vốn giải ngân 5 tháng đạt trên 9,75 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ cho thấy các dự án FDI đang hoạt động vẫn được triển khai tương đối ổn định. Đây là chỉ tiêu có ý nghĩa thực chất, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư và mức độ hiện thực hóa cam kết đầu tư tại Việt Nam. Trong bối cảnh dòng vốn đầu tư quốc tế còn thận trọng, kết quả giải ngân tăng góp phần hỗ trợ sản xuất, xuất khẩu, việc làm và tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, cơ cấu dòng vốn cho thấy xu hướng phân hóa rõ. Vốn đăng ký mới tăng mạnh, đạt trên 12,2 tỷ USD, tăng 119,6% so với cùng kỳ; số dự án mới tăng 7,1%. Điều này cho thấy dòng vốn mới tiếp tục vào Việt Nam, nhưng mức tăng về vốn chịu tác động lớn từ một số dự án quy mô lớn. Góp vốn, mua cổ phần tiếp tục tăng mạnh về giá trị, tăng 46,7% so với cùng kỳ phản ánh xu hướng nhà đầu tư lựa chọn các thương vụ có quy mô lớn hơn hoặc có vị trí chiến lược hơn. Trong khi đó, vốn điều chỉnh vẫn theo chiều hướng giảm cho thấy một bộ phận doanh nghiệp FDI hiện hữu vẫn thận trọng trong kế hoạch mở rộng đầu tư ngắn hạn.
![]() |
| Việt Nam là điểm đến được nhà đầu tư nước ngoài quan tâm trong quá trình dịch chuyển, tái cấu trúc và đa dạng hóa chuỗi cung ứng. |
Thứ ba, cơ cấu đầu tư vẫn tập trung cao theo ngành, đối tác và địa bàn. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với trên 9,64 tỷ USD chiếm 65,0% tổng vốn đăng ký cấp mới, ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đứng thứ hai, cho thấy nhu cầu đầu tư vào năng lượng và hạ tầng sản xuất vẫn lớn. Về đối tác, Singapore và Hàn Quốc tiếp tục chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư. Về địa bàn, Thái Nguyên, TP. Hồ Chí Minh và Nghệ An là các địa phương thu hút vốn lớn nhất trong các tháng đầu năm. Diễn biến này cho thấy các dự án lớn có ảnh hưởng rõ đến kết quả chung, đồng thời đặt ra yêu cầu mở rộng dư địa thu hút đầu tư tại các địa phương khác thông qua hạ tầng, quỹ đất, nguồn nhân lực, năng lượng và dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư.
Thứ tư, kết quả thu hút ĐTNN tích cực nhưng chưa đồng đều và chưa thật sự bền vững. Mặt tích cực là Việt Nam tiếp tục thu hút được dòng vốn mới, vốn thực hiện tăng và khu vực FDI duy trì đóng góp lớn vào xuất khẩu. Tuy nhiên, vốn điều chỉnh liên tục xu thế giảm và kết quả thu hút vốn phụ thuộc nhiều vào một số dự án quy mô lớn. Điều này cho thấy tâm lý nhà đầu tư vẫn còn thận trọng, chưa chuyển hẳn sang xu hướng mở rộng đầu tư mạnh trên diện rộng.
Thứ năm, yêu cầu quản lý nhà nước trong giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ thu hút theo số lượng sang chọn lọc và hỗ trợ triển khai thực chất. Cần tiếp tục ưu tiên các dự án có công nghệ, giá trị gia tăng, liên kết với doanh nghiệp trong nước, sử dụng năng lượng hiệu quả, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường và có đóng góp ngân sách. Đồng thời, cần theo dõi sát các dự án quy mô lớn, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn về thủ tục, đất đai, hạ tầng, điện năng, lao động và logistics để đẩy nhanh giải ngân vốn đăng ký.
Nhìn chung, Cục Đầu tư nước ngoài cho rằng tình hình ĐTNN trong các tháng đầu năm 2026 cho thấy, Việt Nam vẫn duy trì sức hút trong bối cảnh quốc tế còn bất định. Tuy nhiên, kết quả tích cực cần được đánh giá thận trọng do còn phụ thuộc vào một số dự án lớn và sự phân hóa giữa các dòng vốn. Trong thời gian tới, cần tiếp tục theo dõi sát biến động địa chính trị, giá năng lượng, chi phí logistics, chính sách thương mại, thuế quan và kiểm soát công nghệ của các nền kinh tế lớn; đồng thời tập trung cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng xúc tiến đầu tư, thúc đẩy giải ngân và tăng năng lực hấp thụ vốn của các địa phương.




