Tin mới
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tháo gỡ nhiều vướng mắc, khó khăn trong lĩnh vực đầu tư công, góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Trong giai đoạn 2021-2025, xây dựng và hoàn thiện thể chế về đầu tư công được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ xác định là một trong ba đột phá chiến lược, được triển khai liên tục, quyết liệt với tinh thần cải cách mạnh mẽ, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư công cơ bản được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, thống nhất, qua đó tạo lập hành lang pháp lý vững chắc, khơi thông các điểm nghẽn và giải phóng nguồn lực cho phát triển.

Chu Bảo Nguyên

Vụ Phát triển hạ tầng (Bộ Tài chính)

Email: [email protected]

ThS.Nguyễn Tiến Huy

rường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh

Email: [email protected]

GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG NĂM 2025 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Cải cách thể chế - “chìa khóa vàng” tháo gỡ điểm nghẽn đầu tư công

Năm 2025 ghi nhận bước tiến nổi bật trong hoàn thiện thể chế khi tư duy quản lý tiếp tục chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, tăng cường trao quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát và rút gọn thủ tục hành chính. Cùng với việc trình Quốc hội sửa đổi, hoàn thiện các luật liên quan đến đầu tư công, Chính phủ đã chủ động ban hành 61 nghị định hướng dẫn thi hành. Pháp luật về đầu tư công được phân cấp triệt để với 12 nội dung giao cho các bộ, ngành, địa phương; khối lượng hồ sơ, giấy tờ được cắt giảm khoảng 70%. Đáng chú ý, Nghị định số 254/2025/NĐ-CP về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công (thay thế Nghị định số 99/2021/NĐ-CP) đã rút ngắn thời gian thanh toán từ 3 ngày xuống tối đa 2 ngày làm việc, riêng tạm ứng vốn thực hiện trong 1 ngày. Đây là cải cách có tác động trực tiếp đến tiến độ giải ngân, hạn chế tình trạng dồn hồ sơ vào cuối năm.

Để bảo đảm quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp không làm gián đoạn hoạt động quản lý, trong đó có giải ngân vốn đầu tư công, Chính phủ đã kịp thời ban hành 28 nghị định về phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền, tạo cơ sở pháp lý cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương triển khai thực hiện. Các địa phương chủ động rà soát, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể, bảo đảm tính thống nhất giữa quy định của trung ương và thực tiễn tổ chức thực hiện theo mô hình mới.

Song song với đó, Nghị định số 275/2025/NĐ-CP ngày 18/10/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2025/NĐ-CP đã tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý thi hành Luật Đầu tư công, bảo đảm tương thích với các luật có liên quan như: Luật Đầu tư công (được sửa đổi, bổ sung), Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi), Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Công nghiệp công nghệ số; đồng thời cụ thể hóa các nội dung được giao quy định chi tiết và tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính theo tinh thần phân cấp triệt để.

Ngoài ra, một số nghị quyết đặc thù của Chính phủ được ban hành kịp thời nhằm bảo đảm hoạt động phát triển kinh tế - xã hội không bị gián đoạn trong thời gian chờ hoàn thiện hệ thống luật. Nghị quyết số 66.2/2025/ NQ-CP quy định cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc trong điều chỉnh quy hoạch cấp quốc gia, vùng và tỉnh khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, hạn chế phát sinh thêm quy trình, thủ tục kéo dài thời gian bổ sung dự án. Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP về cơ chế, chính sách đặc thù trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 đã tháo gỡ kịp thời các vướng mắc trong cấp phép, điều chỉnh giấy phép và cơ chế khai thác khoáng sản, qua đó đáp ứng yêu cầu cung ứng nguyên vật liệu cho các công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia.

Có thể khẳng định, những nỗ lực trong cải cách thể chế được thực hiện kịp thời và đồng bộ trong năm 2025 đã tạo nền tảng quan trọng cho tổ chức thực thi hiệu quả. Nếu không có các giải pháp cải cách thể chế quyết liệt nêu trên, kết quả giải ngân vốn đầu tư công đạt gần 95% trong năm 2025 khó có thể được hiện thực hóa.

Vốn đầu tư công được phân bổ tập trung góp phần khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, lãng phí

Việc tăng cường quyền tự chủ, tính chủ động và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong lựa chọn, phê duyệt và phân bổ vốn cho từng dự án cụ thể được triển khai trên cơ sở bám sát mục tiêu, định hướng phát triển đã đề ra, đồng thời bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư công. Cách tiếp cận này góp phần nâng cao chất lượng quyết định đầu tư, hạn chế dàn trải, phân tán nguồn lực và tăng cường trách nhiệm giải trình trong toàn bộ quá trình thực hiện.

Nguồn vốn ngân sách trung ương được ưu tiên tập trung cho các dự án quan trọng quốc gia, các tuyến đường bộ cao tốc, dự án liên vùng và công trình trọng điểm có tính lan tỏa cao, qua đó tạo động lực và không gian phát triển mới, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, đến hết năm 2025 cả nước đã hoàn thành 3.345 km đường bộ cao tốc (nếu tính cả đường dẫn và nút giao là 3.803 km, vượt 803 km so với mục tiêu đề ra) và trên 1.711 km đường ven biển (so với mục tiêu 1.700 km). Đồng thời, cơ bản hoàn thành giai đoạn 1 của Cảng hàng không quốc tế Long Thành đạt tiêu chuẩn 4F đầu tiên tại Việt Nam; đưa vào khai thác các tuyến vành đai, đường sắt đô thị, cảng biển, cảng hàng không quan trọng. Những kết quả này tạo nền tảng hạ tầng thiết yếu cho quá trình phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Đầu tư công và chuyển dịch cơ cấu: Hiệu ứng lan tỏa rõ nét

Bất chấp bối cảnh còn nhiều khó khăn, đầu tư công năm 2025 tiếp tục ghi nhận những kết quả nổi bật trong phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Hàng nghìn km đường cao tốc được hoàn thành, vượt mục tiêu kế hoạch; hệ thống đường ven biển, các tuyến vành đai đô thị, cảng biển, cảng hàng không được đẩy nhanh tiến độ; các dự án chuyển đổi số, công nghệ thông tin và hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được tăng cường bố trí vốn.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2025 (bao gồm vốn Thủ tướng Chính phủ giao, vốn địa phương giao tăng thêm và vốn kéo dài từ năm trước) đạt trên 1,18 triệu tỷ đồng. Quy mô này phản ánh quyết tâm lớn trong việc sử dụng đầu tư công như một công cụ chủ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hỗ trợ phục hồi các động lực phát triển.

Tính đến hết ngày 31/01/2026 (thời điểm chỉnh lý quyết toán), giá trị giải ngân vốn kế hoạch năm 2025 ước đạt khoảng 858,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 94,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. So với năm 2024, tỷ lệ giải ngân tăng khoảng 3,4 điểm phần trăm và giá trị tuyệt đối tăng hơn 234 nghìn tỷ đồng. Kết quả này cho thấy nỗ lực đáng kể của các bộ, ngành và địa phương trong bối cảnh khối lượng vốn và áp lực tổ chức thực hiện đều ở mức cao.

Tác động của các dự án đầu tư công không chỉ thể hiện ở giá trị giải ngân, mà còn lan tỏa rộng trong nền kinh tế. Quá trình triển khai đã tạo thêm việc làm trực tiếp và gián tiếp; thúc đẩy các ngành xây dựng, vật liệu, cơ khí và dịch vụ liên quan; góp phần giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh; đồng thời mở rộng không gian phát triển cho cả các vùng kinh tế động lực và các địa bàn còn nhiều khó khăn.

Theo đó, đầu tư công không đơn thuần là hoạt động chi tiêu ngân sách, mà là công cụ quan trọng trong tái cơ cấu nền kinh tế và điều tiết phát triển giữa các khu vực. Thông qua phân bổ nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm, đầu tư công góp phần hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội; giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương; giữa vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với các trung tâm tăng trưởng.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC VÀ NGUYÊN NHÂN

Mặc dù hành lang pháp lý về đầu tư công đã được cải thiện đáng kể, quá trình tổ chức thực thi trên thực tế vẫn phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc. Vốn ngân sách địa phương giải ngân tuy đạt trên 113% kế hoạch giao, nhưng ở chiều ngược lại, vốn ngân sách trung ương chỉ đạt khoảng 74,5%, thấp hơn cùng kỳ năm trước và là yếu tố kéo giảm tỷ lệ giải ngân chung của cả nước. Sự chênh lệch này phản ánh hai xu hướng song hành. Một mặt, cơ chế phân cấp, phân quyền ngày càng được đẩy mạnh đã tạo điều kiện để địa phương nâng cao năng lực tự chủ và khả năng tổ chức thực hiện. Mặt khác, các dự án sử dụng vốn ngân sách trung ương - phần lớn là dự án quy mô lớn, liên vùng, công trình trọng điểm quốc gia - vẫn chịu tác động của nhiều ràng buộc pháp lý, quy trình thủ tục phức tạp và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như giải phóng mặt bằng, nguồn cung vật liệu và phối hợp liên ngành, liên địa phương.

Thời gian qua, mặc dù đã có nhiều giải pháp được triển khai quyết liệt, nhưng kết quả giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt 100% kế hoạch cho thấy việc tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi trong giai đoạn tới là hết sức cần thiết, nhằm bảo đảm tính thông suốt của dòng vốn đầu tư công và phát huy tối đa hiệu quả sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước. Trong đó, có thể khái quát các nguyên nhân chủ yếu như sau:

Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, công tác lập và phân bổ kế hoạch vốn tại một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương chưa bám sát thực tiễn, đăng ký nhu cầu vốn chưa tương xứng với năng lực thực hiện, bao gồm cả nguồn vốn thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia. Hệ quả là xuất hiện tình trạng dự án thừa vốn, dự án thiếu vốn; không phân bổ hết kế hoạch được giao, phải điều chỉnh nhiều lần hoặc hoàn trả vốn, ảnh hưởng đến tỷ lệ giải ngân và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Thứ hai, công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện giải phóng mặt bằng (GPMB), tái định cư ở một số địa phương chưa thực sự quyết liệt. Dù nhiều địa phương đã chủ động đẩy nhanh bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng, song tại không ít nơi, GPMB vẫn là điểm nghẽn kéo dài, gây chậm trễ dây chuyền cho dự án. Các khó khăn phổ biến bao gồm xác định giá đất bồi thường chưa đạt được sự đồng thuận, vướng mắc trong xác định nguồn gốc sử dụng đất do chuyển nhượng qua nhiều lần, chậm hoàn thiện thủ tục giao đất.

Thứ ba, năng lực và trách nhiệm của một số chủ đầu tư, ban quản lý dự án, nhà thầu còn hạn chế; sự phối hợp giữa các bên liên quan chưa chặt chẽ. Một số đơn vị chưa chủ động, thiếu quyết liệt trong tổ chức thi công; chưa bố trí đầy đủ nhân lực, thiết bị; còn tâm lý e ngại, né tránh trách nhiệm. Công tác kiểm tra, giám sát và thống nhất với đơn vị tư vấn thiết kế chưa hiệu quả, làm giảm chất lượng hồ sơ trình thẩm định, kéo dài thời gian chỉnh sửa. Bên cạnh đó, hồ sơ thanh toán nộp chậm, dẫn đến dồn khối lượng giải ngân vào cuối năm.

Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, diễn biến thời tiết bất thường, phức tạp đã tác động đáng kể đến tiến độ thi công. Nhiều đợt mưa bão, lũ lụt trên diện rộng, đặc biệt tại khu vực miền núi phía Bắc, Trung Bộ và Tây Nguyên, ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án hạ tầng, nhất là dự án giao thông trọng điểm. Việc khắc phục hậu quả thiên tai và ổn định lại trạng thái thi công đòi hỏi thời gian, làm gia tăng áp lực giải ngân vào cuối năm.

Thứ hai, nguồn cung nguyên vật liệu và biến động giá cả tiếp tục là thách thức lớn. Tình trạng khan hiếm đất, cát, đá đắp trong khi nhu cầu thi công cao; khó khăn trong huy động thiết bị, vật tư do phải triển khai đồng thời nhiều dự án trọng điểm; giá nguyên vật liệu tăng mạnh so với thời điểm mời thầu đã làm tăng chi phí, buộc phải điều chỉnh tổng mức đầu tư. Một số địa phương còn gặp khó khăn trong bố trí kinh phí thuê tư vấn định giá đất phục vụ GPMB.

Thứ ba, đối với các dự án sử dụng vốn ODA, quy trình, thủ tục giải ngân phụ thuộc nhiều vào quy định và ý kiến của nhà tài trợ; sự khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài, cùng với các yêu cầu thử nghiệm đặc thù, làm kéo dài thời gian thực hiện. Một số dự án đang trong quá trình điều chỉnh, gia hạn thời gian thực hiện hoặc hoàn thiện thủ tục ký kết, sửa đổi hiệp định vay; tiến độ đấu thầu, ký kết hợp đồng chậm; việc chờ ý kiến không phản đối hoặc chấp thuận của nhà tài trợ đối với hồ sơ liên quan cũng ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân. Ngoài ra, sau khi sáp nhập địa phương và chuyển sang mô hình chính quyền hai cấp, một số dự án phải thực hiện lại thủ tục pháp lý với nhà tài trợ.

Thứ tư, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong thời gian qua, dù đã được chỉ đạo quyết liệt, vẫn phát sinh những khó khăn bước đầu. Một số xã mới thành lập hoặc hợp nhất chưa kịp bố trí cán bộ chuyên trách đầu tư công; cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ; công tác bàn giao hồ sơ còn chậm. Việc sáp nhập tỉnh dẫn tới tồn tại nhiều bảng giá đất trong cùng địa bàn, ảnh hưởng đến xây dựng phương án bồi thường GPMB; thay đổi đơn vị thực hiện GPMB về cấp xã, phường cũng làm gián đoạn quá trình triển khai.

Những nguyên nhân nêu trên cho thấy, bên cạnh nỗ lực cải cách thể chế, việc nâng cao chất lượng tổ chức thực thi, tăng cường phối hợp và dự báo sát thực tiễn vẫn là yêu cầu trọng tâm nhằm bảo đảm hiệu quả và tính bền vững của hoạt động đầu tư công trong giai đoạn tới.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn gia tăng, xu hướng bảo hộ thương mại quay trở lại và rủi ro tài chính toàn cầu chưa được loại trừ hoàn toàn, dư địa chính sách tiền tệ ngày càng thu hẹp, thì chính sách tài khóa, đặc biệt là đầu tư công, tiếp tục được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được giao ở mức xấp xỉ 1 triệu tỷ đồng, cao hơn khoảng 93 nghìn tỷ đồng so với năm 2025, đánh dấu quy mô lớn nhất từ trước tới nay, đặt ra các cơ hội và thách thức đan xen. Đây là dư địa quan trọng để tạo xung lực tăng trưởng trong bối cảnh nền kinh tế cần thêm động lực từ phía cầu đầu tư.

Tuy nhiên, tính đến hết tháng 01/2026, tỷ lệ giải ngân mới đạt khoảng 2% kế hoạch, phản ánh đặc thù đầu năm và việc nhiều dự án đang hoàn thiện thủ tục phân bổ chi tiết. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải tổ chức thực hiện quyết liệt ngay từ quý I, tránh tình trạng dồn áp lực vào những tháng cuối năm; xây dựng kế hoạch giải ngân theo tháng, quý đối với từng dự án; gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện; đồng thời tăng cường điều chuyển vốn linh hoạt giữa các dự án có khả năng hấp thụ tốt hơn.

Chính phủ xác định giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của toàn hệ thống, yêu cầu triển khai các giải pháp đột phá, mạnh mẽ và quyết liệt hơn trong quản lý, sử dụng vốn; đẩy nhanh tiến độ ngay từ đầu năm, nhất là đối với các dự án quan trọng quốc gia, công trình trọng điểm và các Chương trình mục tiêu quốc gia. Thời gian tới, để nâng cao hiệu quả giải ngân vốn đầu tư công, cần tập trung các giải pháp sau:

Đột phá từ quyết tâm chính trị đến cơ chế thực thi rõ ràng

Để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp. Trước hết, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu, gắn kết quả giải ngân với đánh giá thi đua, khen thưởng và công khai tiến độ thực hiện. Song song với đó, hoàn thiện phân bổ vốn sớm, cập nhật đầy đủ dữ liệu trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư công; đẩy mạnh phân cấp gắn với tăng cường giám sát, kiểm tra độc lập và giám sát cộng đồng.

Bên cạnh đó, tập trung tháo gỡ vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng; bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng; thực hiện nghiêm các cơ chế đặc thù đã được ban hành; kiểm soát chặt chẽ tạm ứng, thanh toán kịp thời, hạn chế dồn khối lượng vào cuối năm. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh từ việc tổ chức mô hình chính quyền hai cấp.

Quan trọng hơn, cần chuyển từ tư duy “giải ngân bằng mọi giá” sang “giải ngân hiệu quả, đúng quy định, bảo đảm chất lượng và hiệu quả đầu tư”.

Tháo gỡ để bứt phá - đầu tư công và nền tảng tăng trưởng bền vững

Thực tiễn năm 2025 cho thấy đầu tư công tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng cho giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, để phát huy đầy đủ vai trò này, việc tháo gỡ vướng mắc cần được tiếp cận theo hướng cải cách toàn diện, từ tư duy quản lý, thiết kế thể chế đến tổ chức thực thi.

Khi hệ thống pháp luật được hoàn thiện theo hướng minh bạch, ổn định; bộ máy vận hành thông suốt; trách nhiệm được phân định rõ ràng; cơ chế khuyến khích và ràng buộc đủ mạnh; cùng với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, đầu tư công sẽ thực sự trở thành động lực kép: vừa kích thích tổng cầu trong ngắn hạn, vừa nâng cao năng lực cung và tiềm năng tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế.

Do đó, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực đầu tư công không chỉ nhằm cải thiện tỷ lệ giải ngân, mà quan trọng hơn là tạo lập nền tảng cho một chu kỳ tăng trưởng mới theo hướng bền vững, bao trùm và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

  1. Chính phủ (2026). Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2026.
  2. Các báo cáo phục vụ cuộc họp Chính phủ, Thường trực Chính phủ về tình hình phát triển kinh tế - xã hội thường kỳ.
  3. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 244/2025/QH15 ngày 13/11/2025 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
  4. Thủ tướng Chính phủ (2026). Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026.
Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 3/2026
Chu Bảo Nguyên - Nguyễn Tiến Huy
Thích

Các tin khác

Tin nổi bật