![]() |
| TS. Cấn Văn Lực chia sẻ thông tin tại phiên thảo luận. Ảnh: BTC |
Phát triển Trung tâm tài chính, đa dạng hóa nguồn vốn
Ngày 27/10, chia sẻ tại phiên thảo luận “Làm thế nào để thu hút dòng vốn toàn cầu cho Trung tâm tài chính quốc tế?” trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ quốc gia cho biết, kinh nghiệm từ 5 quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam trong thời kỳ tăng trưởng 2 con số (khoảng 10%) cho thấy, tổng vốn đầu tư cần đạt 35-40% GDP, tốc độ tăng vốn đầu tư hằng năm từ 13-15%.
Trong mô hình tăng trưởng của các quốc gia này, vốn là một trong 3 yếu tố gồm lao động, vốn (vốn tài chính và phi tài chính) và năng suất nhân tố tổng hợp. Yếu tố vốn đóng góp khoảng 40-50% cho tăng trưởng kinh tế.
Đối với Việt Nam, từ thời kỳ đổi mới đến nay, vốn đóng góp khoảng 45-50% cho tăng trưởng. Trong giai đoạn mới, dù sử dụng vốn hiệu quả hơn, quy mô vốn đầu tư vẫn tương đương khoảng 40% GDP, đóng góp khoảng 40-42% cho tăng trưởng kinh tế.
Theo TS. Cấn Văn Lực, từ nay đến năm 2030, Việt Nam cần huy động khoảng 280-300 tỷ USD mỗi năm, với tốc độ tăng vốn đầu tư bình quân 14%/năm. Riêng TP. Hồ Chí Minh cần huy động khoảng 1,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, tương đương 22% tổng nhu cầu vốn cả nước, phù hợp với mức đóng góp 23,5% GDP cả nước của Thành phố.
Trong bối cảnh nhu cầu vốn lớn, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, Việt Nam cần phát triển thị trường vốn và chú trọng thêm các nguồn lực tài chính, thay vì phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.
Hiện tín dụng ngân hàng chiếm khoảng 51% tổng lượng vốn tại Việt Nam. Trong khi đó, huy động vốn từ thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp mới chiếm khoảng 13-14%; nếu cộng thêm trái phiếu chính phủ khoảng 10%, tổng tỷ trọng cũng chỉ khoảng 23%. Theo TS. Cấn Văn Lực, đây là mức quá thấp và Việt Nam dứt khoát phải phát triển thị trường vốn.
|
| TP. Hồ Chí Minh cần huy động 1,7 triệu tỷ đồng mỗi năm để đầu tư phát triển. Ảnh: T.H |
Việt Nam có lợi thế về nguồn tiền tiết kiệm trong dân, hiện đạt khoảng 35% GDP, so với đầu tư ở mức 31% GDP, tương đương còn khoảng 4% GDP tiền nhàn rỗi. Tuy nhiên, tỷ lệ này đang thu hẹp dần.
Do đó, TS. Cấn Văn Lực đề cập 7 nguồn lực cần chú trọng, gồm tài chính xanh/quốc tế; thúc đẩy thặng dư thương mại; nâng hạng thị trường chứng khoán và nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên Investment Grade trước năm 2030; phát triển Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng; thị trường tài sản số/tiền kỹ thuật số; thị trường tín chỉ carbon; và xử lý dứt điểm khoảng 1.500 dự án tồn đọng.
Trong đó, phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng được xác định là một trong những nguồn lực cần chú trọng nhằm mở rộng các kênh huy động vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư cho tăng trưởng.
Gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực phát triển
Theo TS. Cấn Văn Lực, việc huy động vốn cho tăng trưởng đang đối mặt với nhiều thách thức. Quy mô thị trường tài chính đã đạt 328% GDP, khiến dư địa tăng trưởng nhanh không còn nhiều như trước. Tín dụng/GDP hiện ở mức 144% GDP, dự kiến lên 180% GDP vào năm 2030.
Bên cạnh đó, chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi khoảng 2 triệu tỷ đồng khiến việc giảm lãi suất gặp nhiều khó khăn. Hệ thống thể chế và khung pháp lý sandbox cho các mô hình mới còn chậm. Hệ số ICOR của Việt Nam vẫn ở mức cao, trên 6 lần trong giai đoạn vừa qua, trong khi mục tiêu cần giảm về 4,5 lần.
Trước những thách thức này, TS. Cấn Văn Lực khuyến nghị Chính phủ kiên định với các đề án chiến lược như Đề án 1413 về cải cách toàn diện thị trường tài chính đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và Đề án 893 về phát triển hệ thống ngân hàng lành mạnh.
Đồng thời, cần đẩy nhanh hoàn thiện thể chế minh bạch, xử lý các điểm nghẽn dự án, cơ cấu lại đầu tư công và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô để khơi thông nguồn lực phát triển.




