Tin mới
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phối hợp chính sách tiền tệ, tài khóa trong kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng

Chính sách tiền tệ (CSTT) là công cụ, biện pháp chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW) để điều tiết thị trường tiền tệ thông qua quá trình cung ứng tiền bằng các công cụ lãi suất, tín dụng, tỷ giá chi phối dòng chu chuyển tiền tệ và khối lượng tiền trong nền kinh tế nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Chính sách tài khóa (CSTK) là công cụ nhằm tác động lên định hướng phát triển của nền kinh tế thông qua những chính sách về chi tiêu của Chính phủ và những thay đổi về chính sách thuế, thể hiện các quan điểm, cơ chế và phương thức huy động các nguồn lực tài chính hình thành nên ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính có tính chất tập trung của Nhà nước để thực hiện các khoản chi của ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ. Quá trình chi tiêu cũng như các khoản thu thuế của Chính phủ có tác động trực tiếp đến các biến số kinh tế vĩ mô, như tăng trưởng và lạm phát.

TS.Đỗ Thị Bích Hồng

Ngân hàng Nhà nước

Email: [email protected]

ThS.Nguyễn Thị Thanh Hằng

Học viện Ngoại giao

 

TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

CSTT và CSTK do 2 cơ quan khác nhau điều hành. Xác định rõ tầm quan trọng của 2 chính sách này, tại Việt Nam, việc phối hợp đồng bộ, linh hoạt giữa CSTT, CSTK luôn được Đảng, Chính phủ và Quốc hội quan tâm. Đặc biệt trong nhiều năm qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Bộ Tài chính đã phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, linh hoạt trong quản lý, điều hành các chính sách, ứng phó kịp thời với diễn biến bất lợi và các cú sốc thị trường, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Về điều hành chính sách tiền tệ

Trên cơ sở các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, NHNN đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN năm 2025 và 2026 yêu cầu các đơn vị trong toàn ngành Ngân hàng bám sát phương châm hành động của Quốc hội, Chính phủ, thực hiện nghiêm túc các giải pháp điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý. Bên cạnh đó, để ứng phó với những biến động nhanh của tình hình thế giới và trong nước, NHNN đã điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với CSTK và các chính sách vĩ mô khác, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Sự phối hợp CSTT với CSTK trong năm 2025 và những tháng đầu năm 2026 được thể hiện rõ nét trong các giải pháp điều hành CSTT của NHNN khi đưa ra các quyết định điều tiết thanh khoản, lãi suất, tỷ giá, tín dụng... đều dựa trên sự theo dõi chặt chẽ các nguồn thu chi từ khu vực Chính phủ để trung hòa hóa dòng tiền đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, cụ thể:

Thứ nhất, NHNN thực hiện chào mua có kỳ hạn giấy tờ có giá hàng ngày qua nghiệp vụ thị trường mở với khối lượng phù hợp (trong năm 2025, tổng khối lượng trúng thầu của tổ chức tín dụng (TCTD) qua nghiệp vụ thị trường mở đạt khoảng 3,3 triệu tỷ đồng, bơm ròng 371,3 nghìn tỷ đồng), kỳ hạn đa dạng (7 ngày, 14 ngày, 28 ngày, 91 ngày) để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD, ổn định thị trường tiền tệ. Đồng thời, tại một số thời điểm, NHNN phát hành tín phiếu để hỗ trợ điều hành tỷ giá và ổn định thị trường ngoại tệ; điều hành đồng bộ các công cụ CSTT khác như giữ ổn định tỷ lệ dự trữ bắt buộc chung đối với TCTD; tái cấp vốn đối với các TCTD phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ… Nhờ đó, thanh khoản hệ thống được đảm bảo, thị trường tiền tệ ổn định, lãi suất thị trường liên ngân hàng diễn biến phù hợp, tạo điều kiện để TCTD giảm và ổn định lãi suất cho vay. Đầu năm 2026, sau các biện pháp điều hòa thanh khoản đồng bộ, hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống các TCTD, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của nền kinh tế trước và trong dịp Tết Nguyên đán 2026, thị trường tiền tệ đã ổn định, tiếp tục hỗ trợ thanh khoản qua kênh hoán đổi ngoại tệ, thanh khoản của toàn hệ thống đã được cải thiện.

Thứ hai, tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành ở mặt bằng thấp nhằm tạo điều kiện cho TCTD tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, NHNN chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay; công bố thông tin lãi suất cho vay trên trang thông tin điện tử của ngân hàng nhằm cung cấp thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay. Mặt bằng lãi suất trong 11 tháng đầu năm 2025 giảm 0,06%/năm so cuối năm 2024. Từ cuối tháng 11/2025, mặt bằng lãi suất cho vay có xu hướng tăng do lãi suất tiền gửi tăng bởi nhu cầu thanh khoản và tín dụng tăng. Đến ngày 10/3/2026, mặc dù lãi suất tiền gửi bình quân các giao dịch mới phát sinh tăng 0,31%/năm so với cuối năm 2025, nhưng lãi suất cho vay bình quân đối với giao dịch phát sinh mới của ngân hàng thương mại ở mức 8,05%/năm, giảm 0,03%/năm so với cuối năm 2025.

Thứ ba, NHNN áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm, tạo điều kiện cho tỷ giá diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường và mục tiêu CSTT, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài; tỷ giá USD/VND giao dịch trên thị trường được xác định trong biên độ +/- 5% so với tỷ giá trung tâm. Đồng thời, NHNN linh hoạt thực hiện can thiệp ngoại tệ trên thị trường với các hình thức đa dạng khi cần thiết; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với công tác truyền thông, các công cụ CSTT khác (lãi suất, thanh khoản VND…) nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Nhờ đó, trong năm 2025, mặc dù tiếp tục chịu áp lực do các diễn biến phức tạp, khó lường trên thị trường quốc tế và khó khăn trong nước, thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; tỷ giá USD/VND diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường. Qua đó, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phát triển kinh tế. Đầu tháng 3/2026, trong bối cảnh xung đột Trung Đông leo thang, giá dầu thế giới tăng vọt, chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy, làm gia tăng áp lực lạm phát, khiến lộ trình điều hành lãi suất chính sách của các NHTW lớn (trong đó có Cục Dự trữ liên bang Mỹ - Fed) trở nên khó lường hơn. Theo đó, yếu tố tâm lý, kỳ vọng thị trường, kết hợp với đồng USD có xu hướng tăng trên thị trường quốc tế ít nhiều gây áp lực lên thị trường ngoại tệ trong nước và tỷ giá. NHNN tiếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài; phối hợp đồng bộ với các công cụ CSTT, sẵn sàng can thiệp ngoại tệ khi cần thiết nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Nhờ đó, thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, tỷ giá diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện và áp lực thị trường.

Thứ tư, bám sát Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, NHNN tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát. Năm 2025 tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 20/01/2025, dự kiến tăng trưởng tín dụng (TTTD) toàn hệ thống khoảng 16%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Để tạo điều kiện thuận lợi cho TCTD cung ứng nguồn vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, NHNN đã có văn bản gửi các TCTD thông báo toàn bộ chỉ tiêu TTTD năm 2025, công khai nguyên tắc để các TCTD chủ động triển khai thực hiện. Đồng thời, NHNN tiếp tục triển khai lộ trình hạn chế và tiến tới xóa bỏ việc điều hành phân bổ chỉ tiêu TTTD cho từng TCTD theo Nghị quyết số 62/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội, thông báo cho nhóm ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, Ngân hàng Hợp tác xã và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng được chủ động kiểm soát tăng trưởng tín dụng năm 2025.

Trong điều kiện lạm phát được kiểm soát phù hợp với mục tiêu Quốc hội, Chính phủ đề ra và thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về điều hành TTTD phù hợp, kịp thời, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, ngày 31/7/2025, NHNN đã thông báo điều chỉnh tăng thêm chỉ tiêu TTTD năm 2025 đối với các TCTD theo nguyên tắc cụ thể, đảm bảo công khai, minh bạch. Việc bổ sung hạn mức này là sự chủ động của NHNN mà các TCTD không cần phải đề nghị. Bên cạnh đó, NHNN chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tiếp tục thực hiện các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng trên cơ sở rà soát, đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ vay vốn, tài sản bảo đảm... đi đôi với việc tuân thủ các quy định của pháp luật.

Kết quả là tăng trưởng tín dụng tích cực, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 18,6 triệu tỷ đồng tăng 19,07% so với cuối năm 2024. Năm 2026, tín dụng đã tăng trưởng tích cực ngay từ đầu năm. Tuy nhiên, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đạt 144% ở cuối năm 2025 - là mức cao so với các nước đồng hạng, là một chỉ báo cho thấy hoạt động tín dụng đang tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, NHNN dự kiến TTTD toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh tăng, giảm phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống các TCTD. NHNN yêu cầu các TCTD: (1) Tổ chức thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời các chỉ đạo của Chính phủ, Lãnh đạo Chính phủ về triển khai hiệu quả, kịp thời các giải pháp tín dụng; (2) TTTD an toàn, đúng quy định của pháp luật trên cơ sở phù hợp với năng lực quản trị rủi ro, tình hình thanh khoản và khả năng huy động vốn, bảo đảm duy trì các tỷ lệ an toàn, đặc biệt là các tỷ lệ an toàn về thanh khoản và khả năng chi trả, nâng cao chất lượng tín dụng, sử dụng vốn đúng mục đích, hiệu quả, hạn chế nợ xấu gia tăng và phát sinh, đảm bảo an toàn hoạt động; (3) Nâng cao năng lực đánh giá, thẩm định tín dụng; tăng cường kiểm tra, kiểm soát nội bộ đối với hoạt động cấp tín dụng của TCTD đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật, quy định nội bộ trong hoạt động cấp tín dụng theo quy định. Đến ngày 23/04/2026, tín dụng nền kinh tế đạt khoảng 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,11% so với cuối năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,56%).

Phối hợp chính sách tiền tệ, tài khóa trong kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng

Về chính sách tài khóa

Năm 2025, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường, nhiều khó khăn, thách thức lớn, đặc biệt là căng thẳng thương mại, xung đột quân sự, bất ổn chính trị tại một số quốc gia, khu vực, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, nợ công toàn cầu và nhiều nước tăng cao. Trong nước, khó khăn, thách thức nhiều hơn. Tình trạng lũ lụt ảnh hưởng thiệt hại nặng nề đến đời sống nhân dân, phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn cơ bản đạt được mục tiêu tổng quát và hoàn thành toàn bộ các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu năm 2025. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn tiếp tục được giữ vững: Tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02%, đạt mục tiêu đề ra Quốc hội và Chính phủ đề ra, cao nhất khu vực và thuộc nhóm dẫn đầu trên thế giới (Quý I/2026 ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2025 tăng 7,07%)). Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 tăng 3,31% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra; Quý I/2026 tăng 3,51% so với trung bình năm trước. Thu ngân sách nhà nước (NSNN) đạt hơn 2,6 triệu tỷ đồng, tăng 34,74% dự toán năm 2025, tăng 29,67% so với ước thực hiện năm 2024. Kết quả này cho thấy CSTK đã được điều hành một cách chủ động, linh hoạt từ phía Bộ Tài chính. Cụ thể:

Ngay sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 158/2024/QH15 ngày 12/11/2024 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) năm 2025 và Nghị quyết số 159/2024/QH15 ngày 13/11/2024 về dự toán NSNN năm 2025, Bộ Tài chính đã phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2025 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán NSNN năm 2025; ban hành Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 05/02/2025 về mục tiêu tăng trưởng các ngành, lĩnh vực và địa phương, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8% trở lên; ban hành Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 01/3/2025 về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8% trở lên. Đồng thời, hướng dẫn các địa phương xây dựng kịch bản tăng trưởng theo tháng, quý và chủ trì rà soát, đánh giá các kịch bản của từng Bộ, ngành, địa phương, bảo đảm phù hợp, khả thi.

Bên cạnh đó, triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngay sau khi các bộ, cơ quan hoàn tất công tác sắp xếp, tổ chức lại cơ cấu bộ máy, Bộ Tài chính đã chủ trì xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 31/5/2025 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển KTXH và dự toán NSNN với mục tiêu tăng trưởng năm 2025 đạt 8% trở lên. Nghị quyết mới được xây dựng đã cập nhật các nhiệm vụ, chỉ tiêu mới tại Kết luận số 123- KL/TW của Trung ương, Nghị quyết số 192/2025/ QH15 của Quốc hội, Nghị quyết số 25/NQ-CP của Chính phủ cũng như các chủ trương, chỉ đạo của Bộ Chính trị, lãnh đạo chủ chốt Đảng, Nhà nước; trong đó, xác định 05 quan điểm, trọng tâm chỉ đạo điều hành, 12 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu và 136 nhiệm vụ cụ thể của các ngành, lĩnh vực nhằm quyết liệt thực hiện mục tiêu tăng trưởng đã đề ra.

Nhiều giải pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư đã được triển khai nhằm đảm bảo yêu cầu, kế hoạch đặt ra. Bên cạnh đó, để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, Bộ Tài chính cũng đã tham mưu cho Chính phủ và ban hành theo thẩm quyền nhiều chính sách giảm thuế, gia hạn thuế, phí, tiền sử dụng đất để hỗ trợ doanh nghiệp; chủ động triển khai các chính sách hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân...

Đặc biệt, trong năm 2025, thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 47-TB/TW ngày 15/11/2024, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam nhằm tạo đột phá trong phát triển thị trường tài chính, thu hút các nguồn vốn đầu tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Theo đó, Bộ Tài chính đã nhanh chóng tham mưu, ban hành Nghị định số 323/NĐ-CP ngày 18/12/2025 về thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam và Quyết định số 2755/QĐ-TTg ngày 18/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới. Bên cạnh đó, việc thành lập các khu thương mại tự do (Khu Thương mại tự do Đà Nẵng, Thương mại tự do Hải Phòng, Khu Thương mại tự do Thành phố Hồ Chí Minh (gắn với cảng biển khu vực Cái Mép Hạ)), đã tạo ra một cơ chế đột phá để thử nghiệm mô hình kinh tế đặc biệt, tạo ra động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế, thu hút đầu tư, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, dịch vụ, tạo việc làm, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Về NSNN, lũy kế thu NSNN 12 tháng năm 2025 đạt khoảng 2.650,1 nghìn tỷđồng, bằng 134,74% so dự toán (tăng gần 683,3 nghìn tỷ đồng), tăng 30,3% so với cùng kỳ năm 2024 (Trong đó: Thu NSTW 1.219.506 tỷ đồng, đạt 121,64% dự toán; tăng 17,96% (+185.676 tỷ đồng) so với cùng kỳ. Thu NSĐP 1.430.590 tỷ đồng, đạt 148,36% dự toán. Thu NSNN năm 2025 đạt kết quả tích cực góp phần có thêm nguồn lực tạo nguồn thực hiện cải cách chính sách tiền lương, xử lý các vấn đề quan trọng, cấp bách đột xuất phát sinh, tăng chi đầu tư phát triển và đảm bảo an sinh xã hội. Lũy kế chi 12 tháng (tính đến hết ngày 31/12/2025) ước đạt khoảng 2.424,6 nghìn tỷ đồng, bằng 94,1% dự toán, tăng 31,5% so với cùng kỳ năm 2024; bảo đảm kịp thời nguồn kinh phí thực hiện phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, các chính sách, chế độ khi thực hiện tổ chức, sắp xếp bộ máy và chính quyền địa phương 2 cấp, các nhiệm vụ quan trọng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, chi phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và các chính sách an sinh xã hội...

Bên cạnh các kết quả tích cực nói trên, trong thời gian qua, các nguồn vốn từ cổ phiếu, trái phiếu, FDI tăng thấp cùng những khó khăn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản đã khiến cho nguồn vốn phục vụ tăng trưởng tiếp tục tập trung vào tín dụng ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng/GDP tăng cao tiềm ẩn rủi ro an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ. Do đó, điều hành CSTT sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Theo đó, để tránh những tác động bất lợi, cần tiếp tục đề cao tính hiệu quả của CSTT và CSTK khi theo đuổi mục tiêu chung là kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh tế thông qua việc lựa chọn các cách thức thực hiện sự phối hợp trên cơ sở các lý thuyết kinh tế cơ bản, phù hợp với điều kiện thực tế của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn.

THÁCH THỨC TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT NĂM 2026 VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

Trong năm 2026, áp lực lạm phát có xu hướng gia tăng, đặc biệt trong bối cảnh khi xung đột Mỹ-Iran xảy ra, giá dầu thế giới đảo chiều tăng vọt, chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy. Trong nước, giá xăng dầu cũng đã trải qua nhiều kỳ điều chỉnh tăng theo diễn biến giá dầu thế giới. Điều này làm cho lạm phát tổng thể trong thời gian tới phải đối mặt với áp lực tăng rất lớn, không chỉ trực tiếp từ nhóm “Nhiên liệu”, mà còn là sự gia tăng của các nhóm hàng hóa khác, khi xăng dầu là đầu vào quan trọng cho các ngành sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là vận tải hàng hóa.

Bình quân 3 tháng đầu năm 2026, CPI tổng thể tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước (thước đo ayoy), lớn hơn so với mức tăng 3,22% ayoy của cùng kỳ năm trước cho thấy áp lực lạm phát trong thời gian tới là rất lớn. Trong trường hợp xung đột Trung Đông kéo dài sẽ khiến công tác kiểm soát lạm phát gặp thách thức trong việc hoàn thành mục tiêu của Quốc hội đề ra. Lạm phát cơ bản tháng 3/2026 tăng 0,47% so với tháng trước (mom) – thấp hơn mức tăng 0,82% của tháng trước nhưng vẫn là mức tăng cao nhất cùng kỳ trong 10 năm trở lại đây, tăng 1,65% so với cuối năm trước và tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 3 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 3,63% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn mức tăng của lạm phát tổng thể (3,51%) do nhóm lương thực, thực phẩm (thóc gạo, thịt gia súc, gia cầm, thủy sản) là các yếu tố góp phần làm giảm lạm phát tổng thể nhưng đã được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản. Lạm phát cơ bản bình quân 03 tháng 2026 đang cao hơn lạm phát tổng thể, cho thấy áp lực lạm phát đã dồn lên các yếu tố tiền tệ, do đầu tư được đẩy mạnh hơn trong bối cảnh nền kinh tế đang phấn đấu đạt mức tăng trưởng 02 con số trong năm 2026. Đây cũng là một diễn biến cần lưu ý, qua đó xác định chắc chắn vấn đề cần ưu tiên cho mục tiêu của CSTT 2026 là phải kiên định kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô cho nền kinh tế.

Trong bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước khó khăn như đã đề cập, để tiếp tục phối hợp tốt CSTT và CSTK đóng góp hiệu quả hơn, bền vững hơn cho nền kinh tế Việt Nam, NHNN và Bộ Tài chính cần xây dựng các kịch bản để tham mưu, đề xuất với Chính phủ, Quốc hội trong điều hành CSTT, công tác tài chính - ngân sách hiệu quả năm 2026. Theo đó:

NHNN cần bám sát diễn biến thị trường, tình hình kinh tế trong và ngoài nước để điều hành chắc chắn, chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ và giải pháp CSTT nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng theo định hướng đề ra. Điều hành nghiệp vụ thị trường mở phù hợp với diễn biến thị trường, hỗ trợ ổn định thị trường tiền tệ. Điều hành lãi suất phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát và mục tiêu CSTT. Điều hành tỷ giá linh hoạt nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Tái cấp vốn đối với TCTD để hỗ trợ thanh khoản, cho vay các chương trình đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hỗ trợ quá trình cơ cấu lại TCTD và xử lý nợ xấu. Đặc biệt, cần xác định mục tiêu kiểm soát lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh đó, cần đặt mục tiêu an toàn hoạt động các TCTD song hành với mục tiêu điều hành tăng trưởng tín dụng bám định hướng, chủ trương của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ;

Bộ Tài chính tiếp tục đảm bảo các cân đối lớn cho nền kinh tế; nghiên cứu đề xuất thêm các chính sách hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp (miễn, giảm, gia hạn thuế, tiền thuê đất); tiếp tục đổi mới, sáng tạo áp dụng chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính… Bên cạnh đó, để thực hiện mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển vào năm 2045, Việt Nam cần đẩy mạnh thực chất các giải pháp về đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng trưởng xanh, phát triển nguồn nhân lực, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh nhằm thúc đẩy các động lực tăng trưởng kinh tế dài hạn.

Tài liệu tham khảo:

  1. Bank for International Settlements. (2011). Central bankers’ speeches.
  2. Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025; Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2026
  3. European Central Bank. (2007). Assessing fiscal soundness - Theory and practice.
  4. Kilpatrick, A. (2002). Tranparent Framework, fiscal rules and policy - making under uncertainty.
  5. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2025). Báo cáo kết quả hoạt động năm 2025.
  6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2026). Báo cáo tình hình điều hành chính sách tiền tệ 2025- định hướng điều hành 2026.
Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 5/2026
Đỗ Thị Bích Hồng - Nguyễn Thị Thanh Hằng
Thích

Các tin khác

Video

Tin nổi bật