Tin mới
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Phát triển thị trường tài chính và dịch vụ tài chính đồng bộ, hiện đại, minh bạch và bền vững

Phát triển thị trường tài chính và dịch vụ tài chính đồng bộ, hiện đại, minh bạch và bền vững là yêu cầu tất yếu trong tiến trình xây dựng nền tài chính quốc gia phát triển bền vững, hiện đại và hội nhập theo tinh thần Chiến lược tài chính đến năm 2030. Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, thị trường tài chính Việt Nam vẫn còn hạn chế về cơ cấu, mức độ hiện đại hóa, tính minh bạch và tính bền vững, đòi hỏi những giải pháp đồng bộ, toàn diện trên cả bốn trụ cột nêu trên. Hoàn thiện thể chế, phát triển cân đối các cấu phần thị trường, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao minh bạch, năng lực giám sát, đồng thời gắn kết chặt chẽ với định hướng tài chính xanh, tài chính bền vững, sẽ là những trụ cột quan trọng để thị trường tài chính Việt Nam phát triển ổn định, hiệu quả, đóng góp tích cực vào huy động, phân bổ nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và bao trùm trong giai đoạn tới.

ThS. Lưu Ánh Nguyệt

Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính; Email: [email protected]

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau hơn 35 năm đổi mới, thị trường tài chính Việt Nam đã hình thành tương đối đầy đủ các cấu phần cơ bản: thị trường tiền tệ - tín dụng, thị trường chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, phái sinh), thị trường bảo hiểm và các dịch vụ tài chính phụ trợ. Chiến lược tài chính đến năm 2030 xác định phát triển thị trường tài chính và dịch vụ tài chính đồng bộ, hiện đại, minh bạch và bền vững là một trong những mục tiêu trọng tâm. Phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) ổn định, hoạt động an toàn, hiệu quả, có cơ cấu hợp lý, cân đối giữa thị trường tiền tệ với thị trường vốn, giữa thị trường cổ phiếu với thị trường trái phiếu và TTCK phái sinh. Đến năm 2025, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 100% GDP; dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu 47% GDP; trong đó, dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), đạt tối thiểu 20% GDP. Đến năm 2030, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP, dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu 58% GDP, trong đó, dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt tối thiểu 25% GDP.

Thị trường tài chính đồng bộ là trạng thái các cấu phần thị trường (tiền tệ, vốn, bảo hiểm, phái sinh...) phát triển cân đối, liên thông, bổ trợ lẫn nhau, không để gánh nặng huy động vốn trung, dài hạn dồn vào hệ thống ngân hàng. Thị trường hiện đại vận hành trên nền tảng công nghệ tiên tiến, sản phẩm, dịch vụ đa dạng, phương thức giao dịch, thanh toán, lưu ký, bù trừ đạt chuẩn mực quốc tế. Thị trường minh bạch đòi hỏi công bố thông tin đầy đủ, kịp thời, chuẩn xác, quản trị công ty theo thông lệ tốt và cơ chế giám sát, cưỡng chế thực thi hiệu lực. Thị trường bền vững được nhìn nhận ở 2 khía cạnh, gồm: bền vững về ổn định hệ thống (an toàn vĩ mô, quản lý rủi ro hệ thống) và bền vững về định hướng phát triển (gắn với tài chính xanh, tài chính có trách nhiệm, phục vụ tăng trưởng xanh và phát triển bao trùm).

Về chủ trương, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định nhiệm vụ “phát triển đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường... vận hành thông suốt, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới”, trong đó thị trường tài chính, tiền tệ là thị trường trọng yếu cần ưu tiên hoàn thiện thể chế. Cụ thể hóa chủ trương này, Chiến lược tài chính đến năm 2030 (Quyết định số 368/QĐ-TTg) xác định quan điểm xây dựng nền tài chính quốc gia phát triển bền vững, hiện đại và hội nhập, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế, bảo đảm ổn định vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia.

Bên cạnh đó, hệ thống chiến lược, đề án chuyên ngành đã được ban hành đồng bộ: Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030, Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2030, Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, và hệ thống phân loại xanh quốc gia làm cơ sở phát triển thị trường tài chính xanh. Đây là khung chính sách quan trọng, đặt nền móng cho phát triển đồng bộ các cấu phần thị trường tài chính trong giai đoạn tới.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH ĐỒNG BỘ, HIỆN ĐẠI, MINH BẠCH VÀ BỀN VỮNG

Nhìn lại giai đoạn 2021-2025 và nửa đầu năm 2026, thị trường tài chính Việt Nam đã có những chuyển biến rõ nét trên cả 4 phương diện đồng bộ, hiện đại, minh bạch và bền vững, cụ thể:

Thứ nhất, tính đồng bộ, mối liên kết giữa thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và kênh tín dụng ngân hàng đã được cải thiện đáng kể nhờ đa dạng hóa kênh huy động vốn, qua đó giảm bớt áp lực dồn lên hệ thống ngân hàng. Về cổ phiếu, tính đến 31/12/2025, VN-Index đạt 1.784,49 điểm, tăng 40,87% trong năm, là mức cao nhất trong 26 năm hoạt động của thị trường; vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 66,8% GDP, trung bình giai đoạn 2021-2025 là 70,7% GDP. Sang nửa đầu năm 2026, VN-Index tiếp tục tăng lên 1.860,01 điểm (30/6/2026), tăng 4,23% so với cuối năm 2025, vốn hóa đạt 10.572,8 nghìn tỷ đồng; tổng mức huy động vốn qua thị trường chứng khoán 6 tháng đầu năm 2026 (chưa kể phát hành trái phiếu riêng lẻ) ước đạt 173.753 tỷ đồng, tăng 45,8% so với cùng kỳ. Mặc dù thấp hơn so với mục tiêu là 100% GDP vào năm 2025 nhưng so với năm 2024 quy mô vốn hóa TTCK đã tăng tới 39%.

Về trái phiếu doanh nghiệp, sau giai đoạn tái cấu trúc 2022-2023, thị trường phục hồi rõ nét, quy mô phát hành mới năm 2025 đạt khoảng 588,8-624 nghìn tỷ đồng (tăng 24,7-32% so với năm 2024), đưa quy mô dư nợ trái phiếu doanh nghiệp lên trên 1,4 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 11% GDP. Tỷ lệ thu hồi nợ gốc chậm trả lũy kế cuối năm 2025 tăng lên 43,4% (so với 28,5% năm 2024). Đồng thời, tăng trưởng tín dụng ngân hàng nửa đầu năm 2026 chỉ đạt 7,41% (thấp hơn mức 8,3% cùng kỳ năm 2025), trong khi huy động vốn qua thị trường chứng khoán tăng 45,8% cho thấy xu hướng dịch chuyển một phần gánh nặng huy động vốn từ kênh tín dụng sang kênh thị trường vốn đang định hình rõ hơn.

Thứ hai, về tính hiện đại, việc vận hành hệ thống KRX, mở rộng hạ tầng thanh toán số, phát triển sản phẩm phái sinh và thí điểm tài sản mã hóa có những tiến bộ rõ nét.

Ngày 5/5/2025, hệ thống công nghệ thông tin KRX chính thức được đưa vào vận hành sau hơn một thập kỷ chuẩn bị, thay thế hệ thống cũ vốn chỉ xử lý được khoảng 900.000 lệnh/ngày; hệ thống mới vận hành ổn định với năng lực xử lý bình quân khoảng 1,5 triệu lệnh/ngày, hỗ trợ các phương thức giao dịch hiện đại (giao dịch lưới, giao dịch theo cặp) và là điều kiện kỹ thuật quan trọng để rút ngắn chu kỳ thanh toán, tiến tới cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP).

Về tài sản số, ngày 9/9/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam trong thời hạn 5 năm, quy định rõ điều kiện chào bán, phát hành, tổ chức thị trường giao dịch và cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa; theo kế hoạch, sàn giao dịch tài sản mã hóa thí điểm (vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng) sẽ được đưa vào vận hành trước ngày 28/2/2026.

Song song đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành các quyết định tạo lập môi trường thử nghiệm (sandbox) cho giải pháp cho vay ngang hàng theo Nghị định số 94/2025/NĐ-CP quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng. Những bước tiến này, cùng với việc thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục tăng trưởng qua ngân hàng số, ví điện tử, mã QR, cho thấy hạ tầng và khung pháp lý cho các sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại đang được định hình đồng bộ hơn, dù việc vận hành đầy đủ, ổn định trên thực tế vẫn cần thời gian kiểm chứng.

Thứ ba, tính minh bạch, chế tài xử lý vi phạm được tăng cường qua các nghị định năm 2025 và yêu cầu công bố thông tin, quản trị công ty được nâng cao. Kết quả nổi bật nhất về tính minh bạch trong giai đoạn 2021-2025 là việc thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng từ “thị trường cận biên” lên “thị trường mới nổi thứ cấp” theo Báo cáo phân loại quốc gia công bố ngày 8/10/2025, với ngày hiệu lực dự kiến 21/9/2026. Tại kỳ đánh giá giữa kỳ tháng 3/2026, FTSE Russell đã xác nhận giữ nguyên lộ trình này sau khi ghi nhận tiến triển của Việt Nam về khả năng tiếp cận thị trường qua các công ty chứng khoán toàn cầu. Đây là kết quả của hơn 10 năm cải cách liên tục về công bố thông tin, quản trị công ty và hạ tầng giao dịch.

Sau hơn 35 năm đổi mới, thị trường tài chính Việt Nam đã hình thành tương đối đầy đủ các cấu phần cơ bản: thị trường tiền tệ - tín dụng, thị trường chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, phái sinh), thị trường bảo hiểm và các dịch vụ tài chính phụ trợ. Chiến lược tài chính đến năm 2030 xác định phát triển thị trường tài chính và dịch vụ tài chính đồng bộ, hiện đại, minh bạch và bền vững là một trong những mục tiêu trọng tâm.

Cùng với đó, yêu cầu xếp hạng tín nhiệm bắt buộc đối với một số trường hợp phát hành trái phiếu riêng lẻ, cùng các quy định chặt chẽ hơn về công bố thông tin theo Nghị định số 245/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán quy định bắt buộc xếp hạng tín nhiệm đối với phát hành trái phiếu riêng lẻ cho nhà đầu tư cá nhân và Thông tư số 18/2025/TT-BTC siết chặt kỷ luật công bố thông tin, chất lượng và độ minh bạch của thị trường được cải thiện đáng kể.

Báo cáo phát triển bền vững của doanh nghiệp niêm yết cũng được nâng chuẩn, bổ sung tiêu chí phân ngành và cập nhật theo hướng dẫn GRI, IFRS S1 và S2 trong kỳ đánh giá năm 2025. Tuy nhiên, 2 tiêu chí mà FTSE Russell từng lưu ý Việt Nam chưa đáp ứng đầy đủ (chu kỳ thanh toán theo cơ chế giao hàng thanh toán tiền (DvP) và chi phí xử lý giao dịch lỗi thanh toán) cho thấy dư địa cải thiện về minh bạch vận hành vẫn còn, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện trong giai đoạn tới.

Thứ tư, về tính bền vững, sản phẩm tài chính xanh như tín dụng xanh và trái phiếu xanh tăng trưởng nhanh về quy mô tuyệt đối, khung chính sách ngày càng hoàn thiện.

Định hướng ESG và tài chính xanh đã từng bước được thể chế hóa thể hiện ở hệ thống phân loại xanh quốc gia được ban hành (kèm theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh), Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và các kế hoạch hành động ngành được triển khai đồng bộ. Về trái phiếu xanh, theo số liệu IFC, giá trị phát hành giai đoạn 2020-2025 đạt hơn 1,5 tỷ USD. Về quy mô, tốc độ tăng trưởng bình quân dư nợ tín dụng xanh giai đoạn 2017-2025 đạt trên 20-21%/năm, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung. Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đạt gần 780 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 4,19% tổng dư nợ nền kinh tế, tăng 14,62% so với năm 2024 (đã có 58-82 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh); đến cuối tháng 4/2026, con số này tiếp tục duy trì trên 780 nghìn tỷ đồng, trong khi dư nợ đã được đánh giá rủi ro môi trường xã hội đạt hơn 5,1 triệu tỷ đồng.

Trong cơ cấu, tín dụng xanh vẫn tập trung chủ yếu vào nông nghiệp (30-33%) và năng lượng tái tạo (khoảng 40%), trong khi các lĩnh vực giao thông xanh, công trình xanh, kinh tế tuần hoàn còn thiếu vốn. Dù vậy, tỷ lệ tín dụng xanh trên tổng dư nợ (khoảng 4,2%) vẫn còn cách khá xa mục tiêu 10% mà Ngân hàng Nhà nước đặt ra, cho thấy quy mô tài chính xanh, dù tăng trưởng nhanh về tốc độ, vẫn còn hạn chế về quy mô tuyệt đối so với nhu cầu chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

Tuy nhiên, thị trường tài chính và dịch vụ tài chính còn tồn tại một số hạn chế, thách thức chủ yếu đối với yêu cầu phát triển đồng bộ, hiện đại, minh bạch, bền vững trong giai đoạn tới:

Thứ nhất, cơ cấu thị trường còn mất cân đối, thị trường vốn chưa phát triển tương xứng để chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn trung, dài hạn với ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đạt 145- 146% vào cuối năm 2025, gần gấp ba lần mức trung vị của các quốc gia xếp hạng BB (52%) theo đánh giá của Fitch Ratings (tháng 1/2026). Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp và chính phủ còn khiêm tốn so với quy mô tín dụng. Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam hiện mới đạt khoảng 10-12% GDP, còn cách khá xa so với mục tiêu 25% GDP vào năm 2030. Trong khi đó, các tổ chức tín dụng vẫn là nhóm phát hành chủ lực, trái phiếu doanh nghiệp phi tài chính còn mỏng. Dư nợ thị trường trái phiếu giai đoạn 2021-2025 trung bình đạt khoảng 21,6% GDP, và khoảng 32-33% GDP vào cuối năm 2025 (VBMA), thấp hơn nhiều so với Malaysia, Thái Lan hay Singapore (thường trên 60-100% GDP theo các báo cáo ABMI, ADB. Như vậy, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ đạo.

Hệ thống nhà đầu tư tổ chức còn mỏng, thiếu vai trò dẫn dắt thị trường. Đến cuối quý I/2026, số tài khoản chứng khoán vượt 12,66 triệu, trong đó phần lớn là nhà đầu tư cá nhân. Theo số liệu của Ủy ban Chứng khoán Nhànước, tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ quản lý hiện đã đạt trên 800.000 tỷ đồng (khoảng 31 triệu USD), trong đó gần 90% là các danh mục ủy thác, nhưng quy mô các quỹ hưu trí mới chỉ khoảng 100 triệu USD, một tỷ lệ rất nhỏ so với thông lệ quốc tế, nơi quỹ hưu trí thường là nhóm nhà đầu tư tổ chức lớn nhất thị trường vốn.

Thứ hai, khung pháp lý cho các mô hình dịch vụ tài chính mới (fintech, cho vay ngang hàng, tài sản số, ngân hàng mở) chưa hoàn thiện, chưa có cơ chế sandbox chính thức áp dụng thống nhất. Khung pháp lý thử nghiệm sandbox hiện nay giới hạn ở 3 giải pháp (P2P lending, Open API, chấm điểm tín dụng), thời hạn tối đa 2 năm. Với tài sản số, cơ chế thí điểm hiện hành chỉ cho phép giao dịch giữa nhà đầu tư nước ngoài qua tổ chức được cấp phép, chưa mở cho nhà đầu tư trong nước. Bên cạnh đó, hiện chưa có một khung pháp lý riêng biệt, toàn diện và chính thức dành riêng cho Ngân hàng mở (Open Banking). Các tổ chức tín dụng và đối tác Fintech chủ yếu phải tự ký kết hợp đồng và thỏa thuận hợp tác song phương dựa trên các quy định pháp luật chung về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và giao dịch điện tử.

Thứ ba, hạ tầng dữ liệu tài chính quốc gia còn phân tán, thiếu kết nối giữa các cơ quan quản lý và giữa khu vực công tư, hạn chế ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong quản trị rủi ro, giám sát thị trường. Sự bùng nổ của các mô hình tài chính mới và nhu cầu chia sẻ dữ liệu liên ngành (ví dụ: chia sẻ dữ liệu thuế với ngân hàng, kết nối dữ liệu chứng khoán với dữ liệu dân cư) đang tạo ra áp lực lớn về bảo mật và quyền riêng tư cá nhân, đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện luật hóa các quyền khai thác này.

Thứ tư, cơ chế công bố thông tin, quản trị công ty, xếp hạng tín nhiệm còn khoảng cách so với thông lệ quốc tế; chế tài xử lý vi phạm về công bố thông tin, thao túng thị trường chưa đủ sức răn đe.

Thứ năm, thị trường tài chính xanh, thị trường carbon còn ở giai đoạn đầu, quy mô nhỏ so với nhu cầu vốn chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng công bằng; thiếu công cụ tài chính bền vững đa dạng và chuyên gia thẩm định ESG. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, nhu cầu vốn chuyển đổi năng lượng của Việt Nam có thể đạt 135 tỷ USD vào năm 2030 và 364-500 tỷ USD vào năm 2050, trong khi tổng dư nợ trái phiếu xanh, xã hội, bền vững đến cuối 2025 mới đạt khoảng 25.400 tỷ đồng, chỉ chiếm 2% dư nợ trái phiếu doanh nghiệp; tín dụng xanh mới đạt 5%, thấp hơn Thái Lan (8-10%) và Malaysia (trên 15%). Thị trường carbon cũng vừa bước vào giai đoạn thí điểm ETS 2025-2029, với mục tiêu vận hành sàn giao dịch quốc gia từ 2028, trong bối cảnh còn thiếu hụt nhân lực chuyên sâu về thẩm định ESG.

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2026-2030

Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021- 2025 và nửa đầu năm 2026 là nền tảng quan trọng nhưng cũng đặt ra yêu cầu cải cách sâu, rộng hơn để giai đoạn 2026-2030 thực sự tạo bước chuyển về chất. Trên cơ sở thực trạng và hạn chế, thách thức nêu trên, để phát triển thị trường tài chính, dịch vụ tài chính Việt Nam theo đúng định hướng của Chiến lược tài chính đến năm 2030, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp sau cho giai đoạn 2026-2030:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, tạo khung pháp lý đồng bộ, thống nhất.

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật về chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản theo hướng đồng bộ, thống nhất, khắc phục chồng chéo giữa các luật chuyên ngành, nhất là quy định về điều kiện phát hành, chào bán chứng khoán riêng lẻ, quản trị công ty đại chúng, vừa kiểm soát rủi ro vừa không tạo rào cản quá mức với huy động vốn hợp pháp. Cần sớm ban hành khung pháp lý sandbox áp dụng thống nhất cho các mô hình dịch vụ tài chính mới trên nền tảng công nghệ, làm cơ sở thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm an toàn cho người sử dụng dịch vụ. Đồng thời, hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số, tiền kỹ thuật số theo lộ trình phù hợp thông lệ quốc tế, tránh khoảng trống pháp lý gây rủi ro cho nhà đầu tư và thất thu ngân sách.

Thứ hai, phát triển đồng bộ, cân đối các cấu phần thị trường.

FTSE Russell đã xác nhận lộ trình nâng hạng TTCK Việt Nam lên thị trường mới nổi. Để hiện thực hóa mục tiêu này và đáp ứng tiêu chí của các tổ chức quốc tế, cơ quan quản lý đang tập trung đẩy nhanh mô hình đối tác bù trừ trung tâm (CCP) dự kiến vận hành vào quý I/2027, sửa đổi Luật Chứng khoán, nới lỏng giới hạn sở hữu nước ngoài (FOL) và cải thiện công bố thông tin bằng tiếng Anh. Với trái phiếu doanh nghiệp, cần củng cố niềm tin thị trường trên cơ sở thực thi nghiêm quy định về điều kiện phát hành, xếp hạng tín nhiệm bắt buộc, phát triển thị trường thứ cấp tập trung, minh bạch để tăng thanh khoản. Cần có chính sách khuyến khích phát triển nhà đầu tư tổ chức trong nước, quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện, quỹ đầu tư, quỹ tín thác bất động sản (REITs), doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, ưu đãi thuế phù hợp, hình thành nguồn cầu dài hạn cho thị trường vốn, giảm áp lực dồn vào tín dụng ngân hàng. Với thị trường bảo hiểm, cần hoàn thiện quy định về sản phẩm, quản lý đại lý và kênh phân phối (đặc biệt bancassurance) theo hướng minh bạch, bảo vệ tốt hơn quyền lợi người tham gia bảo hiểm.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa hạ tầng thị trường.

Tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ phục vụ giao dịch, thanh toán, lưu ký, bù trừ theo hướng rút ngắn chu kỳ thanh toán, bảo đảm an toàn, bảo mật và khả năng kết nối với hạ tầng khu vực, quốc tế. Cần xây dựng hạ tầng dữ liệu tài chính quốc gia, thúc đẩy chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý và từng bước xây dựng hệ sinh thái tài chính mở, trên cơ sở bảo đảm an toàn thông tin, quyền riêng tư dữ liệu cá nhân. Đây là nền tảng để phát triển các mô hình chấm điểm tín dụng dựa trên dữ liệu thay thế, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh chưa có lịch sử tín dụng truyền thống.

Thứ tư, nâng cao tính minh bạch, hoàn thiện công bố thông tin và quản trị công ty.

Nâng cao chất lượng, tần suất, phạm vi công bố thông tin của tổ chức phát hành, niêm yết theo hướng tiệm cận chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), khuyến khích công bố thông tin phi tài chính, báo cáo phát triển bền vững gắn tiêu chí ESG. Cần thúc đẩy thị trường xếp hạng tín nhiệm trong nước, đa dạng hóa số tổ chức xếp hạng được cấp phép, nâng tính độc lập, khách quan, tiến tới hình thành văn hóa sử dụng kết quả xếp hạng rộng rãi.

Đồng thời, cần tăng cường chế tài xử lý vi phạm về công bố thông tin, thao túng, nội gián đủ sức răn đe, kết hợp hài hòa xử phạt hành chính, dân sự, hình sự; nghiên cứu cơ chế bồi thường tập thể hoặc khởi kiện đại diện để bảo vệ hiệu quả hơn quyền lợi nhà đầu tư nhỏ lẻ.

Thứ năm, phát triển thị trường tài chính xanh, thúc đẩy tài chính bền vững.

Xây dựng cơ chế ưu đãi phù hợp (thuế, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức tăng trưởng tín dụng...) khuyến khích phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững gắn mục tiêu (SLB), phát triển đồng bộ các công cụ tài chính khí hậu khác. Vận hành hiệu quả thị trường tín chỉ carbon trong nước theo lộ trình đã phê duyệt, gắn kết với thị trường khu vực, quốc tế cũng là giải pháp quan trọng huy động thêm nguồn lực cho mục tiêu giảm phát thải.

Đồng thời, cần đào tạo, nâng cao năng lực thẩm định rủi ro môi trường - xã hội cho cán bộ tại tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, bảo đảm nguồn vốn xanh phân bổ đúng mục tiêu, hạn chế “tẩy xanh” (greenwashing).

Việt Nam vẫn chủ động tham gia các cơ chế hợp tác tài chính khu vực, quốc tế, tận dụng hỗ trợ kỹ thuật, kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế trong xây dựng thể chế, nâng cao năng lực giám sát, quản trị rủi ro. Đồng thời, tiếp tục thực hiện cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo lộ trình phù hợp, gắn với bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, vừa thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản trị từ định chế tài chính nước ngoài, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh của định chế tài chính trong nước.

Tài liệu tham khảo:

  1. Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022 phê duyệt Chiến lược tài chính đến năm 2030.
  2. Thủ tướng Chính phủ (2023), Quyết định số 1726/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2030.
  3. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 07/QĐ-TTG phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến năm 2030.
  4. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1658/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
  5. Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg quy định tiêu chí phân loại xanh quốc gia.
  6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  7. Quốc hội (2019), Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14.
  8. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính. Các báo cáo, số liệu công bố về hoạt động ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm hằng năm.
  9. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (HOSE): Báo cáo tổng kết thị trường chứng khoán các năm 2025-2026.
  10. Chính phủ (2025), Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 9/9/2025 về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam.
  11. FTSE Russell (LSEG), Báo cáo Phân loại Quốc gia Cổ phiếu FTSE tháng 9/2025 và thông báo xác nhận lộ trình nâng hạng tháng 3/2026.
  12. Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA): Báo cáo thị trường trái phiếu doanh nghiệp các kỳ 2025-2026.
  13. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Số liệu tín dụng xanh, tăng trưởng tín dụng và huy động vốn công bố năm 2025 và nửa đầu năm 2026.
  14. Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Các báo cáo đánh giá khu vực tài chính Việt Nam (Financial Sector Assessment).
Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 8/2026
ThS. Lưu Ánh Nguyệt
Thích

Các tin khác

Video

Tin nổi bật