|
| Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 387/2026/NĐ-CP về thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. Ảnh: Lê Toàn |
Hợp nhất chương trình, đổi mới khuôn khổ quản lý
Tại Nghị quyết số 46/2026/QH16, Quốc hội đã phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 trên cơ sở hợp nhất 4 Chương trình Mục tiêu quốc gia đã được quyết định chủ trương đầu tư trước đó.
Bốn chương trình gồm: Phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.
Điểm cốt lõi của chủ trương này là đổi mới khuôn khổ quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện, không phải xây dựng lại các chương trình từ đầu. Các mục tiêu, chính sách, đối tượng, nội dung và định hướng đầu tư đã được cấp có thẩm quyền quyết định tiếp tục được kế thừa, đồng thời được rà soát, sắp xếp nhằm loại bỏ trùng lặp, khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực và xác định rõ trách nhiệm quản lý.
Theo đó, hợp nhất 4 chương trình thành một chương trình thống nhất để khắc phục tình trạng nhiều đầu mối quản lý, nhiều tầng hướng dẫn và phân tán nguồn lực, nhưng vẫn bảo đảm trách nhiệm quản lý theo ngành, lĩnh vực. Mục tiêu là đưa các nội dung có cùng tính chất về cùng nhóm vấn đề cần giải quyết, loại bỏ trùng lặp giữa các chương trình trước hợp nhất, đồng thời xác định rõ Bộ quản lý ngành chịu trách nhiệm đối với mục tiêu, chỉ tiêu và nội dung chuyên môn thuộc lĩnh vực được phân công.
Cùng với đó, Nghị quyết chuyển mạnh từ cơ chế Trung ương quyết định chi tiết sang phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm của địa phương. Chủ trương này nhằm đưa thẩm quyền quyết định đến gần hơn với địa bàn và đối tượng thụ hưởng, rút ngắn khâu trung gian, đồng thời gắn quyền quyết định với trách nhiệm về tiến độ, giải ngân và kết quả thực hiện.
Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu đổi mới cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực theo hướng đa dạng hóa, tập trung, có trọng tâm, trọng điểm và gắn với kết quả thực hiện. Mục tiêu là khắc phục tình trạng nguồn lực bị chia cắt theo từng chương trình, từng nguồn; ưu tiên địa bàn, đối tượng khó khăn, thiếu hụt dịch vụ cơ bản; đồng thời tạo động lực để các cơ quan, địa phương nâng cao khả năng tổ chức thực hiện và hấp thụ nguồn lực.
Về ngân sách, chủ trương cơ cấu lại và nâng cao chất lượng sử dụng nguồn lực được đặt trong yêu cầu kiểm soát chặt chi thường xuyên để dành nguồn lực cho đầu tư phát triển, an sinh xã hội và hỗ trợ trực tiếp người dân. Từ đó, bảo đảm nguồn lực của Chương trình tập trung cho mục tiêu, nhiệm vụ và đối tượng thụ hưởng, không thay thế kinh phí hoạt động thường xuyên của bộ máy.
Theo Nghị quyết số 46/2026/QH16, tổng nguồn lực giai đoạn 2026-2030 là 808.558 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách trung ương là 345.000 tỷ đồng, gồm 244.200 tỷ đồng vốn đầu tư công và 100.800 tỷ đồng kinh phí thường xuyên. Cơ cấu nguồn vốn này cho thấy yêu cầu phân bổ nguồn lực phải gắn với mục tiêu, nhiệm vụ và đối tượng thụ hưởng, bảo đảm ngân sách chương trình phục vụ đúng mục đích.
Một định hướng quan trọng khác là chuyển trọng tâm quản lý từ đầu vào, thủ tục sang mục tiêu, sản phẩm và kết quả đầu ra; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất để theo dõi, giám sát và đánh giá. Hiệu quả chương trình không chỉ được nhìn nhận qua số vốn đã phân bổ hoặc giải ngân mà còn phải thể hiện ở sản phẩm, kết quả và mức cải thiện thực tế đối với người dân.
Nghị quyết đồng thời đặt ra yêu cầu áp dụng cơ chế đặc thù nhằm giảm thủ tục ở cấp cơ sở, phát huy vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng. Việc trực tiếp tham gia đề xuất, thực hiện, giám sát và hưởng lợi là một hướng quan trọng để nâng cao hiệu quả triển khai chính sách.
Những định hướng này tạo thành khuôn khổ xuyên suốt: Quản lý thống nhất nhưng không làm lại chính sách; giảm đầu mối, giảm khâu trung gian nhưng tăng trách nhiệm; huy động và phân bổ nguồn lực tập trung hơn; đồng thời chuyển sang đánh giá dựa trên kết quả thực chất.
Cụ thể hóa cơ chế, gắn phân cấp với trách nhiệm
Trên cơ sở chủ trương tại Nghị quyết số 46/2026/QH16, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 387/2026/NĐ-CP về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. Nghị định gồm 7 chương, 54 điều và 14 phụ lục, cụ thể hóa các định hướng lớn thành những quy định phục vụ tổ chức thực hiện.
Trước hết, Nghị định sắp xếp nội dung của 4 chương trình thành 7 nhóm vấn đề, lĩnh vực, nhưng tiếp tục kế thừa mục tiêu, đối tượng, tiêu chuẩn và định mức chuyên ngành đã được quyết định. Nguyên tắc là mỗi nội dung, mục tiêu, chỉ tiêu có một đầu mối chịu trách nhiệm chính, qua đó hạn chế trùng lặp và làm rõ trách nhiệm quản lý.
Về nguồn lực, Nghị định thiết kế chu trình từ huy động, lồng ghép, xác định mức trần 5 năm, phân bổ hằng năm đến giao và điều chỉnh nguồn lực. Bên cạnh ngân sách nhà nước, chương trình có thể huy động nguồn lực từ tín dụng chính sách xã hội, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức và cá nhân. Ngân sách nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, tập trung cho địa bàn, đối tượng ưu tiên.
Việc lồng ghép phải xác định rõ phần việc, kinh phí và kết quả của từng nguồn, không bố trí, thanh toán hoặc quyết toán trùng lặp. Trung ương giao tổng nguồn lực; địa phương quyết định danh mục, thứ tự ưu tiên, phân bổ chi tiết và điều chỉnh theo thẩm quyền.
Mức trần nguồn lực 5 năm được xác định trên cơ sở quy mô đối tượng, mức độ khó khăn và tình trạng thiếu hụt dịch vụ cơ bản. Đây là khung nguồn lực trung hạn, không phải cam kết mặc nhiên phân bổ đủ hằng năm; mức phân bổ cụ thể còn phụ thuộc tiến độ, kết quả thực hiện và giải ngân.
![]() |
| Theo Nghị quyết số 46/2026/QH16, tổng nguồn lực giai đoạn 2026-2030 là 808.558 tỷ đồng. Thiết kế có sự hỗ trợ của AI |
Nghị định đồng thời mở rộng quyền chủ động chi nhưng dựng rõ “hàng rào” ngăn chi sai mục tiêu. Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương phải bảo đảm đúng mục tiêu, đối tượng, nội dung; không làm thay đổi điều kiện thụ hưởng hoặc giảm hỗ trợ trực tiếp cho người dân.
Ngân sách trung ương của chương trình không chi tiền lương, phụ cấp, hoạt động bộ máy, nhiệm vụ quản lý nhà nước và những nội dung đã có nguồn khác bảo đảm, trừ trường hợp ngoại lệ gắn trực tiếp với mục tiêu, nhiệm vụ đặc thù theo quy định. Khi pháp luật chuyên ngành không bắt buộc có định mức riêng, dự toán có thể được xác định theo khối lượng, sản phẩm, kết quả đầu ra và giá thị trường. Việc thanh toán, quyết toán gắn với khối lượng, sản phẩm và nghiệm thu theo quy định.
Một nội dung đáng chú ý khác là đơn giản hóa thủ tục và tăng vai trò của cấp xã, cộng đồng. Đối với dự án đầu tư xây dựng quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản trên địa bàn một xã, UBND cấp xã được giao quản lý theo cơ chế đơn giản hóa. Ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% tổng mức đầu tư tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn đặc biệt khó khăn; dự án dưới 500 triệu đồng có thể giao cộng đồng tự thực hiện thông qua Ban phát triển thôn.
Đối với hỗ trợ phát triển sản xuất, Nghị định cho phép tổ chức linh hoạt theo chuỗi giá trị, cộng đồng, nhiệm vụ và cơ chế đặc thù. Riêng cơ chế hỗ trợ theo nhiệm vụ phải dành tối thiểu 70% kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho người dân.
Về đánh giá kết quả, Nghị định xác lập cơ sở dữ liệu dùng chung kết nối mục tiêu, chỉ tiêu, nguồn lực, đối tượng thụ hưởng, sản phẩm và kết quả. Thang điểm đánh giá gồm 100 điểm, trong đó mục tiêu chuyên ngành chiếm 60 điểm, tiến độ phân bổ và giải ngân chiếm 30 điểm, mức độ hài lòng của Nhân dân chiếm 10 điểm. Kết quả được đánh giá theo kỳ 6 tháng, hằng năm, giữa kỳ và cuối kỳ, làm căn cứ cảnh báo, đánh giá trách nhiệm và điều hành phân bổ ngân sách năm sau.
Như vậy, giải ngân là một tiêu chí quan trọng nhưng không đồng nghĩa với hoàn thành tốt chương trình. Yêu cầu đặt ra là phải đánh giá được nguồn lực đã tạo ra sản phẩm gì, mức độ hoàn thành mục tiêu ra sao và đời sống người dân tại địa bàn thụ hưởng được cải thiện như thế nào.
Nghị định cũng phân định trách nhiệm giữa các chủ thể: Ban Chỉ đạo điều hành, điều phối chung nhưng không phải cấp phê duyệt mới; bộ quản lý ngành chịu trách nhiệm về mục tiêu, chỉ tiêu và chuyên môn; địa phương chịu trách nhiệm về danh mục, tiến độ, giải ngân và kết quả trên địa bàn.
Để bảo đảm tính liên tục, các nhiệm vụ, dự án, hợp đồng và đối tượng thụ hưởng đã được phê duyệt trong năm 2026 trước khi Nghị định có hiệu lực tiếp tục thực hiện theo cơ chế cũ đến khi hoàn thành. Các trường hợp về nguồn vốn kéo dài, dự toán bổ sung năm 2026 và kế hoạch năm 2027 được xử lý theo quy định chuyển tiếp tương ứng, bảo đảm một nhiệm vụ chỉ áp dụng một cơ chế.
Từ chủ trương đến cơ chế thực hiện, Nghị quyết số 46/2026/QH16 và Nghị định số 387/2026/NĐ-CP cùng hướng đến một yêu cầu là thống nhất quản lý, tập trung nguồn lực và nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình. Trong đó, phân cấp phải đi đôi với trách nhiệm giải trình; đơn giản hóa thủ tục phải gắn với kiểm soát mục tiêu; còn kết quả sử dụng ngân sách cần được đo bằng giá trị thực tế tạo ra cho người dân và địa bàn thụ hưởng.




