Tin mới
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Biến sức mạnh FDI thành năng lực nội sinh: Đưa doanh nghiệp Việt tham gia sâu chuỗi cung ứng toàn cầu

Tọa đàm “Kết nối doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu” diễn ra ngày 8/10 tại Hà Nội đặt ra một câu hỏi lớn hơn việc thu hút thêm vốn FDI: Làm thế nào để mỗi dự án đầu tư nước ngoài thực sự trở thành một mắt xích tạo ra giá trị, công nghệ, nhân lực và năng lực sản xuất mới cho doanh nghiệp Việt Nam?

Biến sức mạnh FDI thành năng lực nội sinh: Đưa doanh nghiệp Việt tham gia sâu chuỗi cung ứng toàn cầu
Tọa đàm “Kết nối doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu” do Báo Tài chính - Đầu tư (Bộ Tài chính) tổ chức

Tọa đàm “Kết nối doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu” do Báo Tài chính - Đầu tư (Bộ Tài chính) tổ chức đã diễn ra sáng nay ngày 8/10/2026 với sự tham dự của đại diện cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng các chuyên gia.

Sự kiện diễn ra trong một thời điểm đặc biệt của tiến trình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Sau gần 40 năm Đổi mới, câu chuyện FDI đang có những bước chuyển ngoặt mới với trọng tâm chuyển từ “thu hút được bao nhiêu” sang mục tiêu “tạo ra được bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế”. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của Tọa đàm được Tổng Biên tập Báo Tài chính - Đầu tư Phạm Văn Hoành nêu bật trong phát biểu khai mạc.

Theo ông Phạm Văn Hoành, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đánh dấu sự chuyển hướng quan trọng trong tư duy: từ thu hút vốn FDI sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; từ thu hút các dự án đơn lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái FDI chất lượng cao; từ coi trọng quy mô, số lượng vốn sang chú trọng chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và khả năng kết nối với khu vực kinh tế trong nước.

Biến sức mạnh FDI thành năng lực nội sinh: Đưa doanh nghiệp Việt tham gia sâu chuỗi cung ứng toàn cầu
Ông Phạm Văn Hoành, Tổng Biên tập Báo Tài chính - Đầu tư phát biểu khai mạc Tọa đàm.

Nói cách khác, FDI không còn được nhìn nhận đơn thuần như một nguồn vốn bổ sung cho nền kinh tế. Giá trị lớn hơn cần được tạo ra thông qua sự kết nối giữa nguồn lực bên ngoài và nội lực bên trong.

50,36 tỷ USD vốn FDI và bài toán về sức lan tỏa

Phát biểu chỉ đạo tại Toạ đàm, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cho biết nền kinh tế Việt Nam đang trong chặng đua cuối cùng để về đích kế hoạch năm 2026. Quý III và 9 tháng, tăng trưởng GDP của Việt Nam tương ứng ước đạt 9,95% và 9,01%, cao nhất trong nhiều năm qua.

Trong bức tranh tích cực chung của nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một điểm sáng. 9 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm ngoái, còn vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, cao nhất 5 năm qua. Con số này đã đưa tổng nguồn vốn FDI Việt Nam thu hút được trong gần 40 năm qua lên trên 570 tỷ USD, một con số rất đáng ghi nhận, thể hiện niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư, kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.

Biến sức mạnh FDI thành năng lực nội sinh: Đưa doanh nghiệp Việt tham gia sâu chuỗi cung ứng toàn cầu
Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương phát biểu chỉ đạo tại Tọa đàm.

Không chỉ gia tăng nhanh về số lượng, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian gần đây đã cải thiện đáng kể về chất lượng. Chúng ta đã thu hút được nhiều dự án FDI quy mô lớn trong các lĩnh vực điện tử, bán dẫn, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo... Điều này đã khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng bán dẫn, sản xuất công nghệ cao toàn cầu.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng thực tế thu hút FDI thời gian qua cho thấy chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn nước ngoài vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Đặc biệt, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI còn hạn chế; chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển chưa đạt kỳ vọng; tỷ lệ doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu còn thấp. Đây chính là điểm giao giữa chính sách FDI thế hệ mới và bài toán phát triển doanh nghiệp Việt.

Nâng tầm chiến lược thu hút FDI, đưa Việt Nam trở thành điểm đến của dòng vốn ngoại chất lượng cao

Trong bối cảnh này, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đánh dấu một bước ngoặt mang tính chiến lược, thay đổi toàn diện phương thức và tư duy thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn mới.

Với Nghị quyết số 10-NQ/TW, việc thu hút nguồn lực từ bên ngoài sẽ có những chuyển đổi lớn. Thay vì chỉ chú trọng vào số lượng dự án, số vốn đầu tư, Việt Nam sẽ đặt trọng tâm vào kiến tạo hệ sinh thái FDI chất lượng cao, coi trọng chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng cho nền kinh tế và khả năng liên kết với khu vực trong nước. Việt Nam cũng không thu hút FDI bằng mọi giá mà sẽ lựa chọn đối tác để làm sao nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam thu hút FDI không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, để nâng cao năng suất, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thứ trưởng Trần Quốc Phương khẳng định, cơ hội dành cho Việt Nam là rất lớn. Với nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường chính trị - xã hội an toàn và mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng khắp, Việt Nam đã và luôn là một trong những điểm đến an toàn và hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Việt Nam cũng đã không ngừng cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cải thiện thể chế, chính sách. Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư cũng đã được Quốc hội thông qua và ban hành. Nhiều thủ tục đã được đơn giản hóa, luồng xanh cũng sẽ được thiết lập để đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghệ chiến lược như bán dẫn, AI, dữ liệu… Đây là những nỗ lực cần thiết để Việt Nam duy trì vị thế điểm đến ưu tiên, bên cạnh yêu cầu tiếp tục cải thiện nhanh hơn về hạ tầng điện, logistics và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đặc biệt, việc mới đây, thị trường chứng khoán chính thức được FTSE Russell nâng hạng từ thị trường cận biên lên mới nổi thứ cấp cũng sẽ là tiền đề quan trọng để Việt Nam mở rộng khả năng huy động nguồn lực quốc tế thông qua các kênh trực tiếp và gián tiếp trong thời gian tới.

Thứ trưởng một lần nữa nhấn mạnh, thu hút FDI là chủ trương lớn và nhất quán trong quá trình đổi mới, hội nhập của Việt Nam. Khu vực doanh nghiệp FDI hiện là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp lớn vào sản xuất, xuất khẩu và tạo việc làm.

Với việc ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, Bộ Chính trị đã đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, chứ không đơn thuần là thu hút FDI. Sự kết hợp chiến lược giữa Nghị quyết số 10-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, có thể nói, sẽ tạo ra thế “kiềng ba chân” vững chắc cho nền kinh tế Việt Nam bứt phá.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 280/NQ-CP ngày 22/9/2026 về Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị. Từng nhiệm vụ, giải pháp cụ thể đã được Chính phủ giao cho các bộ ngành, địa phương.

Với vai trò của Bộ Tài chính, Thứ trưởng cho biết Bộ Tài chính cũng đã được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó đáng chú ý là việc thể chế hóa các cơ chế, chính sách đã được đề ra tại Nghị quyết số 10-NQ/TW tập trung vào tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, xây dựng cơ chế ưu đãi linh hoạt cho các dự án cốt lõi, thúc đẩy liên kết giữa khu vực kinh tế trong nước và khu vực FDI…

Cùng với đó, Bộ Tài chính và các bộ ngành liên quan cũng đang tiếp tục thể chế hóa các cơ chế, chính sách liên quan đến việc phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước. Sự phát triển của cả ba khu vực kinh tế tư nhân, nhà nước và đầu tư nước ngoài sẽ là nền tảng quan trọng để thúc đẩy liên kết nội - ngoại mạnh mẽ hơn, qua đó tạo đà cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tăng trưởng 2 con số 2026-2030.

Tăng tính kết nối và lan toả, phát triển mạnh chuỗi cung ứng nội địa

Một trong những thông điệp đáng chú ý từ tọa đàm là: tăng tính kết nối lan toả để biến sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia trở thành yếu tố tiên quyết hiện thực hoá cơ hội và chiến lược đưa doanh nghiệp Việt Nam bước sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Các ý kiến tại Toạ đàm đều thống nhất cho rằng muốn trở thành nhà cung cấp, doanh nghiệp Việt phải đáp ứng một hệ thống yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, giá thành, thời gian giao hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị, truy xuất nguồn gốc, môi trường và khả năng đổi mới.

Từ góc độ chính sách, bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài nhấn mạnh đến nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước là yếu tố quan trọng để gia tăng sự có mặt của doanh nghiệp Việt ngày sâu vào chuỗi cũng ứng toàn cầu.

Theo bà Thuỷ, mặc dù các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam thường mang theo hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ, tuy nhiên xu hướng này đang thay đổi, nhiều doanh nghiệp FDI đang muốn tìm kiếm các doanh nghiệp phụ trợ trong nước để giảm chi phí và xây dựng hệ sinh thái phụ trợ trong nước.

“Nghị quyết 10-NQ/TW đã đưa ra định hướng mạnh mẽ và hiện nay Bộ Tài chính đang đề xuất các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư vượt trội, tiệm cận với thông lệ các nước để khuyến khích doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ, tăng tính lan tỏa vào nền kinh tế trong nước. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong nước cũng cần nâng cao năng lực, chuẩn bị tốt các điều kiện để tham gia chuỗi cung ứng khi có cơ hội”, bà Thuỷ khuyến nghị.

Bên cạnh đó, đại diện Cục Đầu tư nước ngoài cũng lưu ý việc hoàn thiện và phát triển đồng bộ hạ tầng chiến lược và hệ sinh thái ngành. Theo đó, để dòng vốn FDI lan tỏa, cùng với doanh nghiệp trong nước phát huy nội lực của nền kinh tế, cần phải chuẩn bị tốt hạ tầng và hệ sinh thái ngành, trong đó không chỉ là hạ tầng truyền thống như (hạ tầng giao thông, logistic, sân bay, bến cảng) mà còn là hạ tầng số (5G, cơ sở dữ liệu), năng lực cung ứng nguồn năng lượng sạch, ổn định (điện gió, điện mặt trời).

Cùng với đó là đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực để có thể hấp thu các công nghệ và nội hàm của dòng vốn vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Theo bà Thuỷ, muốn thu hút được dự án tốt cần có sẵn nguồn nhân lực có chất lượng.

“Đây cũng là thách thức lớn của ta trong thời gian tới. Để đón đầu các dự án công nghệ cao, chúng ta phải chuẩn bị sẵn nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực bán dẫn, AI, tự động hóa… Dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi đã bổ sung nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt có cơ chế vượt trội để khuyến khích chính các tập đoàn FDI chiến lược đào tạo nhân lực lao động Việt Nam. Dự thảo Luật cũng đề xuất cơ chế đột phá để thúc đẩy các DN FDI thực hiện R&D, thành lập các Trung tâm R&D và tuyển chọn, đào tạo lao động người Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành mắt xích sáng tạo thay vì chỉ là công đoạn lắp ráp, gia công đơn giản”, bà Thuỷ chia sẻ.

Từ “nhà cung cấp” đến doanh nghiệp dẫn dắt

Đồng tình với quan điểm này, các diễn giả tham gia phiên toạ đàm đều thống nhất cho rằng bài toán liên kết chuỗi cung ứng không chỉ là câu chuyện xúc tiến đầu tư. Đây là bài toán liên ngành, liên quan đồng thời đến chính sách, công nghệ, tiêu chuẩn, nhân lực, vốn và năng lực quản trị doanh nghiệp.

Một điểm mấu chốt là mục tiêu cuối cùng của việc kết nối doanh nghiệp Việt với FDI cũng không chỉ dừng ở việc tăng số lượng doanh nghiệp cung cấp linh kiện cho các tập đoàn đa quốc gia. Xa hơn, doanh nghiệp Việt cần sử dụng quan hệ cung ứng với các tập đoàn toàn cầu như một quá trình tích lũy năng lực để tiến lên những nấc thang có giá trị gia tăng cao hơn.

Một doanh nghiệp có thể bắt đầu bằng việc sản xuất một chi tiết đơn giản, sau đó tiến tới linh kiện có độ chính xác cao, thiết kế sản phẩm, nghiên cứu vật liệu, phát triển phần mềm hoặc trở thành nhà cung cấp cấp 1. Xa hơn nữa, doanh nghiệp có thể xây dựng thương hiệu và mạng lưới khách hàng quốc tế của riêng mình.

Đây mới là cách biến FDI thành năng lực nội sinh. Bởi nếu Việt Nam chỉ trở thành nơi đặt nhà máy của các tập đoàn quốc tế, nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào quyết định của các doanh nghiệp bên ngoài. Nhưng nếu từ những nhà máy đó hình thành một thế hệ doanh nghiệp Việt đủ năng lực cung ứng, đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm và vươn ra thị trường quốc tế, tác động của FDI sẽ sâu hơn nhiều.

Từ góc nhìn này, thành công của chính sách FDI trong giai đoạn mới có thể được đo bằng những chỉ số cụ thể hơn: có bao nhiêu doanh nghiệp Việt trở thành nhà cung ứng cho tập đoàn đa quốc gia; tỷ lệ nội địa hóa tăng bao nhiêu; có bao nhiêu công nghệ được chuyển giao; bao nhiêu kỹ sư, chuyên gia được đào tạo; giá trị gia tăng giữ lại trong nước tăng thế nào. Đó cũng là cách biến những con số FDI hàng chục tỷ USD thành những năng lực sản xuất có khả năng tồn tại lâu dài trong nền kinh tế.

Hiếu Phương

Các tin khác

Video

Tin nổi bật