![]() |
| Đầu tư công giữ vai trò “vốn mồi”, mở ra không gian phát triển mới. Ảnh minh hoạ: Lê Toàn |
Công trình được khai thác, giá trị được nối dài
Cầu Rạch Miễu 2 được đưa vào khai thác từ ngày 19/8/2025, sớm hơn kế hoạch khoảng 5 tháng. Dự án có tổng mức đầu tư 6.810,11 tỷ đồng, tuyến dài khoảng 17,5 km, góp phần tăng năng lực vận tải trên Quốc lộ 60 và hoàn thiện mạng lưới giao thông khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Theo đánh giá của Bộ Xây dựng, công trình có ý nghĩa trong giảm ùn tắc, tai nạn giao thông và phát huy hiệu quả kết nối với các tuyến, công trình giao thông đã được đầu tư trong khu vực.
Giá trị của Rạch Miễu 2 không nằm ở thời điểm cây cầu được đưa vào khai thác. Phần giá trị lớn hơn nằm ở quá trình công trình được sử dụng, khi năng lực giao thông được bổ sung và mạng lưới kết nối trong khu vực được vận hành hiệu quả hơn.
Tương tự, 2 tuyến Cao Lãnh - Lộ Tẻ và Lộ Tẻ - Rạch Sỏi cũng cho thấy rõ hơn khía cạnh này. Các tuyến hoàn thành nâng cấp vào tháng 12/2025, với tổng chiều dài khoảng 80 km và tổng mức đầu tư 1.700 tỷ đồng, góp phần nâng cao năng lực kết nối liên vùng, tăng năng lực vận tải, tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế - xã hội tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ những công trình đã đưa vào khai thác có thể thấy, một khoản đầu tư công tạo ra giá trị theo thời gian. Giai đoạn xây dựng hình thành tài sản hạ tầng; giai đoạn vận hành mở ra khả năng chuyển tài sản đó thành năng lực phục vụ nền kinh tế.
Đây cũng là yêu cầu được đặt ra trong Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 23/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Theo Chỉ thị, việc hạch toán kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư phải được thực hiện xuyên suốt từ xây dựng nhu cầu, phân bổ vốn, tổ chức thực hiện, quản lý sử dụng vốn đến vận hành, khai thác dự án sau khi hoàn thành đầu tư. Với công trình đã hoàn thành, cơ quan chủ quản và đơn vị quản lý, sử dụng phải đánh giá kết thúc, đánh giá tác động để làm rõ kết quả đạt được, tính bền vững và tác động kinh tế - xã hội so với mục tiêu ban đầu.
Như vậy, hoàn thành công trình là điểm chuyển tiếp sang một giai đoạn mới của đầu tư công. Tài sản được hình thành bằng nguồn lực công bắt đầu tham gia trực tiếp vào hoạt động của nền kinh tế, và hiệu quả của nó được quyết định ngày càng nhiều bởi khả năng vận hành, khai thác.
![]() |
| Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu việc hạch toán kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư phải được thực hiện xuyên suốt. |
GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khoá XIV, XV cho rằng, hiệu quả dự án cần được xem xét trên toàn bộ vòng đời, từ xây dựng, vận hành, bảo trì đến khai thác lâu dài. Với các dự án quy mô lớn, việc lựa chọn công nghệ phù hợp và từng bước làm chủ công nghệ cũng có ý nghĩa đối với hiệu quả trong nhiều năm sau khi công trình hoàn thành.
Từ góc nhìn vòng đời của dự án, yêu cầu đối với đầu tư công không dừng ở việc bảo đảm công trình được hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng. Sau khi đưa vào sử dụng, cần theo dõi mức độ khai thác, năng lực phục vụ và những thay đổi thực tế mà công trình tạo ra.
Đây là khâu có thể quyết định một khoản đầu tư tạo ra giá trị lớn hay chỉ dừng ở việc hình thành thêm một công trình. Công trình được khai thác đúng công năng, vận hành đồng bộ và gắn với nhu cầu thực tế sẽ có khả năng tạo ra hiệu quả trong thời gian dài hơn.
Vì vậy, đánh giá sau đầu tư cần đi vào những kết quả có thể đo lường được: công suất sử dụng, năng lực phục vụ, chi phí vận hành, thay đổi trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, việc làm, thu nhập và giá trị kinh tế - xã hội được tạo ra sau khi dự án đi vào hoạt động.
Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận đầy đủ hơn giá trị của đồng vốn công bởi khoản đầu tư không kết thúc ở tài sản được hình thành, mà tiếp tục tạo ra giá trị trong suốt thời gian công trình đó được khai thác.
Lan tỏa hiệu quả, dẫn dắt tăng trưởng
Nếu giai đoạn xây dựng tạo ra tài sản thì giai đoạn khai thác quyết định tài sản đó đóng góp được bao nhiêu cho nền kinh tế. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để năng lực mới được hình thành từ đầu tư công thực sự được hấp thụ, từ đó chuyển thành năng suất, sản lượng, việc làm, giá trị gia tăng và thúc đẩy tăng trưởng.
Tại Hội nghị toàn quốc Chính phủ và chính quyền địa phương đầu năm 2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu đổi mới mạnh mẽ cách thức triển khai đầu tư công theo hướng dẫn dắt phát triển, lan tỏa và kích hoạt nguồn lực tư nhân.
Đến tháng 6/2026, trong phát biểu tại phiên họp Chính phủ thường kỳ và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp tục lưu ý một vấn đề rất đáng chú ý: “Đầu tư chưa chuyển hóa tương xứng thành năng lực sản xuất mới.” Đồng thời, Người đứng đầu Đảng, Nhà nước yêu cầu đầu tư công phải là “vốn mồi” để mở ra không gian phát triển, tập trung vào hạ tầng chiến lược và các công trình có sức lan tỏa cao.
Khoảng cách giữa “có công trình” và “có năng lực sản xuất mới” trở thành một thước đo quan trọng của hiệu quả sau đầu tư. Hạ tầng được đưa vào sử dụng nhưng chưa được khai thác đầy đủ thì tác động tới tăng trưởng chưa thể phát huy hết. Ngược lại, khi năng lực mới nhanh chóng được hấp thụ, khoản đầu tư công có thể tiếp tục tạo ra kết quả ở nhiều khâu của nền kinh tế.
Nhìn ở góc độ rộng hơn, đầu tư công chỉ thực sự phát huy vai trò dẫn dắt khi nguồn vốn tạo được tác động vượt ra ngoài phạm vi một dự án. PGS.TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, đầu tư công cần tiếp tục giữ vai trò “vốn mồi”, mở ra không gian phát triển mới và thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân. Trong bối cảnh hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng tốc giải ngân mà còn phải chuyển hóa nguồn vốn thành năng lực tăng trưởng thực chất.
PGS.TS. Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam (VFCA) cũng nhấn mạnh bản chất “vốn mồi” của đầu tư công. Theo ông, ngân sách cần ưu tiên những công trình hạ tầng thiết yếu có suất đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, mức độ rủi ro cao - những lĩnh vực khu vực tư nhân khó tự đảm nhận. Khi hạ tầng được đầu tư đồng bộ, chi phí và rủi ro đầu tư giảm, từ đó tạo điều kiện thu hút thêm nguồn lực tư nhân và FDI.
Đáng chú ý, ông cho rằng “hiệu quả đầu tư công không được đo bằng tỷ lệ giải ngân đơn thuần mà phải được đánh giá bằng chất lượng công trình sau khi hoàn thành, khả năng khai thác và những giá trị kinh tế - xã hội mà công trình mang lại”. Đây cũng là điểm cần được đặt cạnh yêu cầu tăng tốc trong những tháng cuối năm. Giải ngân nhanh là điều kiện cần để tạo thêm động lực cho tăng trưởng, nhưng tốc độ phải đi cùng khả năng hoàn thành công trình, đưa tài sản vào khai thác và phát huy hiệu quả.
Theo ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, tăng trưởng là kết quả tổng hợp của nhiều khu vực và ngành kinh tế. Đầu tư công có thể hỗ trợ mở rộng nền tảng sản xuất trong nước; hạ tầng, kết nối vùng, chuyển đổi xanh và kinh tế số là những lĩnh vực còn dư địa để phát huy hiệu quả.
Từ đó, một yêu cầu quan trọng là phải chuẩn bị điều kiện khai thác ngay từ khi triển khai dự án. Quy hoạch, không gian sản xuất, kết nối giao thông, logistics, hạ tầng kỹ thuật và các dịch vụ hỗ trợ cần được tính toán đồng bộ để khi công trình hoàn thành, năng lực mới có thể nhanh chóng được đưa vào sử dụng.
Đối với những dự án tạo ra năng lực phục vụ lớn, việc theo dõi sau đầu tư cũng cần gắn với mức độ hấp thụ của nền kinh tế. Công trình được khai thác bao nhiêu phần công suất, phục vụ bao nhiêu hoạt động sản xuất, tạo thêm bao nhiêu việc làm, thay đổi ra sao về chi phí và thời gian, đóng góp thế nào vào sản lượng và giá trị gia tăng - những kết quả đó cần được phản ánh trong đánh giá hiệu quả.
![]() |
TS. Nguyễn Quốc Việt, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) cho rằng, trong bối cảnh đặt yêu cầu tăng trưởng cao, đầu tư công cần gắn với nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng. Theo ông, ý nghĩa của một dự án được thể hiện khi công trình được hoàn thành đúng chất lượng, nhanh chóng đưa vào khai thác, tạo năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế; hiệu quả cuối cùng còn được phản ánh qua việc làm, thu nhập và điều kiện phát triển ổn định hơn cho người dân.
Đây là cơ sở để xác định rõ hơn mục tiêu của giai đoạn sau đầu tư. Một công trình giao thông không chỉ cần được sử dụng, điều cần hướng tới là năng lực vận tải được chuyển thành hiệu quả của hoạt động sản xuất, lưu thông. Một hạ tầng phục vụ sản xuất không chỉ cần hoàn thành, năng lực được tạo ra phải được hấp thụ vào hoạt động kinh tế.
Muốn vậy, cần hình thành cơ chế theo dõi kết quả sau đầu tư và đưa những kết quả này trở lại quá trình ra quyết định. Dữ liệu về mức độ khai thác, chi phí vận hành, năng lực phục vụ, sản lượng, việc làm và giá trị gia tăng có thể cho thấy dự án đang tạo ra giá trị ở đâu, điểm nào chưa phát huy và cần bổ sung điều kiện gì.
Cách làm này cũng giúp nâng chất lượng lựa chọn dự án trong các giai đoạn tiếp theo. Những mô hình đầu tư chứng minh được khả năng tạo năng lực mới và giá trị gia tăng có thể trở thành cơ sở để nhân rộng; những dự án có mức khai thác thấp cần được phân tích nguyên nhân để điều chỉnh cách đầu tư, tổ chức vận hành hoặc các điều kiện hỗ trợ đi kèm.
Điều này đã được định hướng tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương, trong đó yêu cầu thực hiện hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội trong phân bổ, quản lý và sử dụng nguồn lực; đầu tư công phải có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các dự án tạo lan tỏa lớn và tạo động lực tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Như vậy, hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội là thông tin đầu vào quan trọng cho quyết định đầu tư. Khi biết rõ đồng vốn đã tạo ra năng lực gì, hiệu quả đến đâu và còn thiếu điều kiện nào để phát huy, việc phân bổ nguồn lực sẽ có cơ sở sát thực tế hơn.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng từng nhấn mạnh đầu tư công phải thực sự giữ vai trò dẫn dắt, kích hoạt, lan tỏa đầu tư toàn xã hội; phải tạo ra công trình, dự án có giá trị sử dụng thực chất, hiệu quả, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, sinh kế cho người dân. Đồng thời, đẩy nhanh giải ngân phải đi đôi với bảo đảm chất lượng công trình và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Từ yêu cầu đó, điều quan trọng là phải làm cho hiệu quả sau đầu tư được thể hiện rõ trong quá trình khai thác công trình. Đây cũng là cách để khắc phục khoảng cách giữa tài sản được hình thành và năng lực sản xuất được tạo ra. Khi công trình được khai thác đúng công năng, các điều kiện liên quan được tổ chức đồng bộ và kết quả khai thác được đo lường đầy đủ, giá trị của đầu tư công sẽ không dừng ở quy mô vốn đã bỏ ra mà được phản ánh trong những kết quả kinh tế cụ thể.
Khi đó, hiệu quả đầu tư công có thể được nhìn theo một chuỗi rõ ràng: vốn hình thành tài sản, tài sản tạo năng lực, năng lực được khai thác, hoạt động kinh tế được mở rộng, năng suất và giá trị gia tăng được nâng lên. Đây chính là phần giá trị được tạo ra sau khi công trình hoàn thành.
Từ “giải ngân đúng và đủ” đến “đầu tư tạo giá trị”, đó là hành trình để mỗi đồng vốn công đi hết chặng đường của mình, tạo ra những giá trị kinh tế - xã hội thiết thực. Khi công trình được khai thác đúng mục tiêu, hiệu quả sau đầu tư được phản ánh bằng những kết quả thực tế và trở thành cơ sở cho các quyết định đầu tư tiếp theo, dòng vốn công sẽ phát huy đầy đủ hơn vai trò dẫn dắt, mở rộng năng lực sản xuất, nâng năng suất, giá trị gia tăng và thực sự tạo thêm “lực kéo” cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.





