
Sau khi xác định yêu cầu phải đổi mới mô hình tăng trưởng, câu hỏi đặt ra “đâu sẽ là động lực đủ sức tạo nên bước phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam”. Trong bối cảnh dư địa tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ được xác định là một lĩnh vực ưu tiên, mà đang trở thành động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng mới, quyết định khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn.

Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy, mỗi cuộc bứt phá đều gắn với sự thay đổi của các động lực tăng trưởng. Nếu ở giai đoạn công nghiệp hóa, vốn, lao động và tài nguyên là những yếu tố quyết định, thì trong kỷ nguyên số, sức mạnh của một nền kinh tế ngày càng được quyết định bởi khả năng tạo ra tri thức, làm chủ công nghệ và không ngừng đổi mới sáng tạo.
Đó cũng là xu thế mà Việt Nam không thể đứng ngoài nếu muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Khi những động lực truyền thống dần tới hạn, việc tìm kiếm một “động cơ” mới cho nền kinh tế không còn là lựa chọn, mà trở thành yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển.
Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã sử dụng hình ảnh rất dễ hình dung để nói về yêu cầu đó.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, nếu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là “bản thiết kế chiến lược” cho giai đoạn phát triển mới của đất nước, Nghị quyết số 57-NQ/TW chính là một trong những “động cơ” quan trọng để hiện thực hóa bản thiết kế ấy. “Động cơ có mạnh, có bền thì con tàu mới đi được nhanh, đi xa và đến đích đúng thời hạn”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh.
Quan trọng hơn, người đứng đầu Đảng và Nhà nước khẳng định, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải được nhận thức là động lực chủ yếu của mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng mới. “Đây không chỉ là sự lựa chọn, mà là con đường bắt buộc phải thực hiện để hiện thực hóa 2 mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước”.
Thông điệp này cho thấy khoa học công nghệ không còn được nhìn nhận như một lĩnh vực hỗ trợ phát triển, mà đã trở thành nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế trong giai đoạn mới.

Tiếp nối định hướng đó, ngay trong phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XVI sáng ngày 20/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục khẳng định yêu cầu đổi mới căn bản mô hình phát triển. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, các quyết sách được Trung ương xem xét, thông qua lần này phải tạo bước chuyển thực chất từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng các yếu tố đầu vào sang phát triển dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và con người.
Đặt mục tiêu vừa phấn đấu đạt mục tiêu năm 2026, vừa tạo nền tảng cho tăng trưởng 2 con số bền vững, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ phụ thuộc vào vốn, tài nguyên, gia công và lao động giá rẻ sang dựa vào năng suất, tri thức, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và quản trị hiện đại. Từ đó, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập hiệu quả.
Đặc biệt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phải thực sự chuyển hóa thành năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh”.
Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, đổi mới mô hình tăng trưởng thực chất là đổi mới cách thức nền kinh tế tạo ra giá trị, năng suất và năng lực cạnh tranh. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên, thì nay phải chuyển sang dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Đó là quá trình chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu; từ gia công, lắp ráp sang sáng tạo, thiết kế và từng bước làm chủ công nghệ; từ lợi thế chi phí thấp sang lợi thế cạnh tranh bằng tri thức, công nghệ và năng suất.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, những dư địa tăng trưởng từ việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, khơi thông các nguồn lực đang bị lãng phí hay “đóng băng” sẽ chỉ còn phát huy tác dụng trong một số năm trước mắt. Khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, những dư địa đó sẽ dần thu hẹp.
“Nếu bây giờ chúng ta không làm thì đến năm 2028, 2029 sẽ không thể tăng trưởng được. Quy mô nền kinh tế càng lớn thì tăng trưởng càng khó. Chúng ta phải dựa vào khoa học công nghệ, phải có cách làm rất mới”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước cũng lưu ý, trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW càng trở nên cấp bách, không thể chậm trễ. “Đây không chỉ là bài toán phát triển, mà còn là bài toán tự chủ chiến lược, an ninh quốc gia”.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ, để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực tăng trưởng, cần chuyển mạnh từ tư duy “hoàn thành công việc” sang tư duy “tạo ra sản phẩm, tạo ra giá trị” và đóng góp trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Việc phát triển khoa học công nghệ phải được triển khai với tầm nhìn dài hạn, đồng bộ từ hạ tầng, nguồn nhân lực, tiêu chuẩn, quy chuẩn đến cơ chế, chính sách, để những quyết sách hôm nay trở thành nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong tương lai.
Đó cũng là lý do việc phát triển khoa học công nghệ không thể chỉ dừng lại ở nghiên cứu hay ứng dụng đơn lẻ.
Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, khoa học công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi được chuyển hóa thành năng suất, thành công nghệ mới, thành sản phẩm mới và giá trị gia tăng mới cho doanh nghiệp.
Điều đó đòi hỏi phải tạo lập một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh, trong đó doanh nghiệp trở thành trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là nơi cung cấp tri thức, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và thị trường tài chính cung cấp nguồn vốn cho đổi mới sáng tạo.

Quan điểm này cũng đang được cụ thể hóa trong các chỉ đạo điều hành của Chính phủ. Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7 mới đây, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện cơ chế thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đồng thời phát huy vai trò của các doanh nghiệp dẫn dắt trong từng ngành, lĩnh vực để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị số. Đây được xem là điều kiện quan trọng để tạo ra năng suất mới và dư địa tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
GS.TS. Hoàng Văn Cường cũng cho rằng, cùng với việc khuyến khích doanh nghiệp tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới công nghệ, tự động hóa và số hóa quản trị, Việt Nam cần lựa chọn các ngành công nghệ chiến lược có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn; đồng thời xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia với sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, các quỹ đầu tư và thị trường.
Đây không chỉ là quá trình phát triển công nghệ, mà còn là quá trình tạo lập năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế.
Ở góc độ doanh nghiệp, Trung tướng Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel cho rằng, doanh nghiệp phải thực sự trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo ông, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, viện nghiên cứu và trường đại học cung cấp tri thức, còn các doanh nghiệp công nghệ đầu tàu cần được giao nhiệm vụ, trao cơ chế phù hợp để phát triển các công nghệ chiến lược, đẩy nhanh thương mại hóa kết quả nghiên cứu, từ đó tạo ra những động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Theo ông Lê Trung Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính), điểm khác biệt căn bản giữa mô hình tăng trưởng cũ và mô hình tăng trưởng mới nằm ở cách tạo ra tăng trưởng.
Nếu tăng trưởng theo chiều rộng chủ yếu dựa vào gia tăng vốn và lao động, thì tăng trưởng theo chiều sâu được quyết định nhiều hơn bởi năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), tức phần tăng trưởng tạo ra từ tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Nói cách khác, nếu mô hình trước đây hướng tới huy động nhiều nguồn lực hơn, thì mô hình mới hướng tới tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực thông qua tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong mô hình đó, khoa học công nghệ tạo ra tri thức và công nghệ mới; đổi mới sáng tạo chuyển tri thức thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới; còn chuyển đổi số giúp lan tỏa nhanh các thành tựu công nghệ tới toàn bộ nền kinh tế. Dữ liệu trở thành nguồn lực sản xuất mới, trí tuệ nhân tạo trở thành lực lượng sản xuất mới và đổi mới sáng tạo trở thành phương thức chủ yếu để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tuy nhiên, công nghệ sẽ không thể tạo ra bước nhảy vọt nếu thiếu con người. Bà Nguyễn Thị Lan, Đại biểu Quốc hội TP. Hà Nội cho rằng, nền tảng của quá trình chuyển đổi vẫn là nguồn nhân lực chất lượng cao. Việt Nam cần đội ngũ chuyên gia làm chủ công nghệ lõi, các nhà khoa học có khả năng dẫn dắt nghiên cứu và lực lượng nhân lực đủ năng lực đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.
Theo bà Lan, kinh nghiệm của Hàn Quốc, Israel hay Singapore cho thấy thành công không chỉ đến từ đầu tư cho công nghệ, mà còn từ việc xây dựng được đội ngũ nhân lực chất lượng cao, có khả năng kết nối nghiên cứu với thị trường và chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế. Vì vậy, cần có những chương trình đột phá trong phát triển nguồn nhân lực, tập trung xây dựng lực lượng nòng cốt có khả năng làm chủ công nghệ lõi, dẫn dắt nghiên cứu và tạo ra giá trị thực cho nền kinh tế.
Ở góc độ khác, GS.TS. Hoàng Văn Cường cho rằng, sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo đang đặt ra yêu cầu mới đối với thị trường lao động. AI sẽ thay thế nhiều công việc mang tính lặp lại, buộc người lao động phải chuyển dịch sang những công việc có giá trị cao hơn, đòi hỏi năng lực sáng tạo, quản trị và làm chủ công nghệ. Khi đó, chính AI và công nghệ số sẽ góp phần nâng năng suất lao động lên nhiều lần, tạo ra động lực tăng trưởng hoàn toàn mới.
Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, không nền kinh tế nào có thể bước lên nhóm dẫn đầu nếu tiếp tục dựa vào những lợi thế của quá khứ. Khi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng, Việt Nam cũng đang đứng trước cơ hội tạo nên bước nhảy vọt mới.
Yêu cầu tiếp theo là tạo dựng những không gian đủ lớn để các động lực ấy được thử nghiệm, phát huy hiệu quả và lan tỏa. Đó cũng là vai trò của các cực tăng trưởng và những cơ chế phát triển vượt trội trong giai đoạn mới.
(Còn tiếp)


