Tin mới
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Khi lợi nhuận quý III tăng 22%, cơ hội trên thị trường chứng khoán nằm ở đâu?

Lợi nhuận quý III/2026 của 87 doanh nghiệp theo dự báo của SHS Research ước đạt 159.400 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, mức tăng chỉ còn 16% khi loại trừ bất động sản, trong khi 6/14 ngành suy giảm. Sự phân hóa đặt ra yêu cầu chọn lọc cơ hội dựa trên chất lượng tăng trưởng và định giá.

Khi lợi nhuận quý III tăng 22%, cơ hội trên thị trường chứng khoán nằm ở đâu?
Lợi nhuận quý III tăng trưởng phân hóa, nhà đầu tư cần chọn lọc cơ hội.

Lợi nhuận tăng, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng hưởng lợi

Theo báo cáo chiến lược tháng 10/2026 của SHS Research, lợi nhuận quý III của 87 doanh nghiệp trong mẫu phân tích được dự báo đạt khoảng 159.400 tỷ đồng lợi nhuận quý III, tăng 22% so với cùng kỳ; tăng trưởng lợi nhuận cả năm dự kiến đạt 29%. Tuy nhiên, khi loại trừ bất động sản, mức tăng của mẫu doanh nghiệp chỉ còn 16%.

Bất động sản đóng góp khoảng một phần ba phần lợi nhuận tăng thêm, dù chỉ chiếm 13% tổng lợi nhuận. Trong khi đó, ngân hàng chiếm 57% tổng lợi nhuận của mẫu và được dự báo tăng 17% so với cùng kỳ. Mức tăng 22% vì vậy không đồng nghĩa lợi nhuận cải thiện đồng đều trên thị trường.

Với bất động sản dân cư, lợi nhuận quý III được dự báo tăng 127%, cả năm có thể tăng 67%. Động lực chủ yếu đến từ bàn giao sản phẩm đã bán và các giao dịch bán sỉ tại một số đại dự án. Tuy nhiên, lợi nhuận tăng mạnh trong một kỳ có thể phản ánh thời điểm ghi nhận doanh thu, chưa hẳn bảo đảm khả năng tăng trưởng tương tự trong các quý tiếp theo.

SHS Research cũng lưu ý thanh khoản thị trường bất động sản suy giảm trong bối cảnh lãi suất tăng có thể ảnh hưởng đến sức mua và giá bán. Vì vậy, cần phân biệt lợi nhuận từ các dự án đang bàn giao với khả năng tạo nguồn thu ở những giai đoạn tiếp theo.

Sự phân hóa còn thể hiện ở sáu trong 14 ngành được khảo sát dự kiến giảm lợi nhuận quý III. Vận tải, cảng và logistics được dự báo giảm 21%; chứng khoán giảm 25%; điện và năng lượng giảm 24%, trong khi xây dựng và hạ tầng chịu mức suy giảm mạnh hơn. Tăng trưởng tích cực ở một số nhóm do đó không đại diện cho toàn thị trường.

Câu hỏi quan trọng không chỉ là doanh nghiệp tăng lợi nhuận bao nhiêu, mà còn là phần tăng thêm đến từ đâu, có thể duy trì trong bao lâu và chịu tác động bởi những rủi ro nào.

Dầu khí, bán lẻ và ngân hàng: mỗi nhóm có một động lực riêng

Dầu khí, bán lẻ và ngân hàng đều có triển vọng tăng trưởng tích cực trong dự báo của SHS Research, nhưng nguồn tạo lợi nhuận khác nhau. Dầu khí gắn với chu kỳ đầu tư và điều kiện thị trường năng lượng; bán lẻ phụ thuộc vào sức mua và khả năng kiểm soát chi phí; còn ngân hàng chịu tác động của tăng trưởng tín dụng, chi phí vốn và chất lượng tài sản.

Ở ngành dầu khí, dự báo lợi nhuận quý III tăng 107%, cả năm có thể tăng 99%. Triển vọng được hỗ trợ bởi chu kỳ đầu tư liên quan đến an ninh năng lượng, các dự án thượng nguồn, hạ tầng khí và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), cùng hoạt động lọc hóa dầu. Vận tải dầu khí cũng được kỳ vọng hưởng lợi khi giá cước tàu dầu duy trì ở mức cao trong bối cảnh căng thẳng tại eo Hormuz.

Tuy nhiên, triển vọng ngành không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp đều hưởng lợi như nhau. Với doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật, cần theo dõi khả năng chuyển hợp đồng thành doanh thu và lợi nhuận; với doanh nghiệp lọc dầu, hiệu quả phụ thuộc vào chênh lệch giá sản phẩm và nguyên liệu, cũng như tình trạng vận hành nhà máy.

Ở nhóm bán lẻ, theo dự báo lợi nhuận quý III tăng 57%, cả năm tăng 32%, với kỳ vọng sức cầu nội địa cải thiện và tiêu dùng tăng vào giai đoạn cuối năm. Tuy nhiên, doanh thu tăng chưa chắc kéo lợi nhuận tăng tương ứng nếu doanh nghiệp phải đẩy mạnh khuyến mại, chịu chi phí đầu vào cao hoặc mở rộng hệ thống quá nhanh. Biên lợi nhuận và hiệu quả hoạt động vì thế quan trọng không kém tốc độ tăng doanh thu.

Phân tích cổ phiếu của SHS Research cho thấy sự khác biệt giữa các mô hình kinh doanh. Với MWG, báo cáo đề cập sự cải thiện tại các chuỗi bán lẻ điện tử và bách hóa. Với FRT, triển vọng của Long Châu và khả năng FPT Shop trở lại đóng góp lợi nhuận sau tái cấu trúc là những yếu tố được chú ý. Các kỳ vọng này cần được kiểm chứng qua kết quả thực tế của từng chuỗi.

Ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến bức tranh lợi nhuận khi chiếm 57% tổng lợi nhuận của mẫu phân tích. SHS dự báo lợi nhuận ngành quý III tăng 17%, cả năm tăng 22%, nhờ nhu cầu tín dụng, hoạt động cho vay các dự án hạ tầng và khả năng cải thiện biên lãi ròng (NIM), nhất là tại một số ngân hàng quốc doanh.

Dù vậy, tăng trưởng tín dụng chỉ chuyển thành lợi nhuận bền vững khi đi kèm khả năng kiểm soát chi phí vốn và rủi ro tín dụng. Áp lực huy động vốn, nợ xấu và chi phí dự phòng có thể làm giảm phần lợi nhuận tăng thêm. Vì vậy, chất lượng tài sản và khả năng duy trì NIM cần được xem xét cùng tốc độ tăng trưởng tín dụng khi đánh giá cổ phiếu ngân hàng.

Ba nhóm ngành đòi hỏi những chỉ báo khác nhau: khả năng thực hiện dự án ở dầu khí, sức mua và biên lợi nhuận ở bán lẻ, hay chi phí vốn và chất lượng tài sản ở ngân hàng. Đây là cơ sở để đánh giá liệu tăng trưởng dự báo có thể trở thành kết quả thực tế.

Định giá thấp chưa đủ tạo thành cơ hội

Tại ngày 30/9/2026, SHS ước tính vốn hóa toàn thị trường khoảng 408 tỷ USD, tương đương 79% GDP năm 2025. Nếu loại trừ nhóm Vingroup, vốn hóa còn khoảng 307 tỷ USD, với P/E 10,2 lần và P/B 1,57 lần. Theo SHS Research, đây là mức định giá thấp so với lịch sử. Tuy nhiên, định giá thấp không đồng nghĩa cổ phiếu đã rẻ hoặc chắc chắn phục hồi.

P/E thấp có thể tạo dư địa nếu lợi nhuận duy trì ổn định hoặc tiếp tục tăng trưởng. Ngược lại, nếu lợi nhuận phụ thuộc vào yếu tố thuận lợi nhất thời hoặc có nguy cơ suy giảm, mức P/E thấp chưa chắc phản ánh cơ hội đầu tư. Tương tự, P/B cần được đặt trong tương quan với khả năng sinh lời, chất lượng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn.

Mức tăng lợi nhuận 22% của toàn mẫu giảm còn 16% khi loại trừ bất động sản, cho thấy cơ cấu ngành ảnh hưởng đáng kể đến bức tranh chung. Việc xác định giá trị hợp lý vì vậy cần dựa trên khả năng tạo lợi nhuận của từng doanh nghiệp, thay vì chỉ nhìn vào mặt bằng định giá toàn thị trường.

SHS Research đánh giá tích cực các nhóm bán lẻ, ngân hàng, cảng – vận tải biển và năng lượng – dầu khí trong tháng 10. Tuy nhiên, triển vọng ngành không có nghĩa mọi cổ phiếu trong nhóm đều hấp dẫn như nhau. Ngay trong dự báo quý III, lợi nhuận vận tải, cảng và logistics được dự báo giảm 21%, còn ngành chứng khoán giảm 25%. Nhà đầu tư cần kiểm chứng triển vọng cụ thể của từng doanh nghiệp trước khi quyết định.

Cơ hội đầu tư cần được sàng lọc qua ba yếu tố. Thứ nhất là nguồn tăng trưởng: lợi nhuận đến từ hoạt động kinh doanh có khả năng duy trì hay chủ yếu từ bàn giao dự án, giao dịch quy mô lớn hoặc điều kiện thuận lợi nhất thời? Thứ hai là chất lượng tài chính: kết quả kinh doanh có đi cùng khả năng tạo dòng tiền và kiểm soát rủi ro tài sản, nợ vay hay không? Thứ ba là định giá: mức giá hiện tại có tương xứng với triển vọng doanh nghiệp hay không?

Doanh nghiệp tăng trưởng cao nhưng lợi nhuận khó lặp lại chưa chắc hấp dẫn hơn doanh nghiệp tăng trưởng vừa phải, có nguồn thu ổn định và hiệu quả sử dụng vốn tốt. Tương tự, cổ phiếu có P/E thấp chưa chắc rẻ nếu triển vọng lợi nhuận thiếu chắc chắn.

Mùa báo cáo quý III vì thế không đơn thuần là cuộc tìm kiếm doanh nghiệp có lợi nhuận tăng cao nhất. Cơ hội nằm ở doanh nghiệp có động lực tăng trưởng rõ ràng, khả năng duy trì lợi nhuận, nền tảng tài chính phù hợp và mức định giá tương xứng với triển vọng.

Khánh Hạ

Các tin khác

Video

Tin nổi bật