
Cục Quản lý đất đai vừa trả lời phản ánh của người dân về việc áp dụng quy định xử lý đất vi phạm trước ngày 1.7.2014. Ảnh: Cao Nguyên
Cục Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhận được phản ánh của ông V.Q.A thông qua Hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Luật Đất đai năm 2024.
Nội dung phản ánh như sau:
"Điều 139 Luật Đất đai quy định việc giải quyết đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 1.7.2014. Trong đó, điểm a khoản 3 Điều 139 quy định: Trường hợp người đang sử dụng đất ổn định, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Khoản 5 Điều 139 quy định: Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này kể từ ngày 1.7.2014 trở về sau thì Nhà nước không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và xử lý theo quy định của pháp luật.
Trong Nghị định số 123/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai không nêu rõ hành vi vi phạm xảy ra trước hay sau ngày 1.7.2014. Vậy khi áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định số 123/2024/NĐ-CP vào thực tế để xử lý thì có xảy ra mâu thuẫn, chồng chéo hay không?".
Sau khi nghiên cứu, Cục Quản lý đất đai có ý kiến như sau: Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 quy định về việc giải quyết đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 1.7.2014.
Theo đó, đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do lấn đất, chiếm đất (không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 139 này) hoặc sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất: Nếu người đang sử dụng đất ổn định, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch xây dựng, quy hoạch nông thôn thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính (điểm a khoản 3 Điều 139).
Trường hợp không đáp ứng điều kiện này thì được tạm thời sử dụng đất theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 139. Ngược lại, đối với các hành vi vi phạm phát sinh kể từ ngày 1.7.2014 trở về sau, khoản 5 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 quy định rõ Nhà nước không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và xử lý theo quy định của pháp luật.
Về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính, điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả phải được khắc phục theo đúng quy định.
Khoản 1 Điều 6 và Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 67/2020/QH14 ngày 13.11.2020) quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là 2 năm; trường hợp đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt thì người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định đối với hành vi vi phạm hành chính đó.
Cụ thể hóa các quy định trên, Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 4.10.2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đã xây dựng các chế tài phân biệt rất rõ ràng và đồng bộ với Luật Đất đai, phân biệt trong việc xử lý hành vi vi phạm lấn đất, chiếm đất, sử dụng đất không đúng mục đích phù hợp với các quy định tại Điều 139 Luật Đất đai: Đối với các hành vi vi phạm xảy ra trước ngày 1.7.2014, nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai thì tổ chức, cá nhân vi phạm vẫn bị áp dụng hình thức xử phạt bằng tiền nhưng không bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm (được quy định chi tiết tại điểm a khoản 5 Điều 8, điểm a khoản 5 Điều 9, điểm a khoản 4 Điều 10, điểm a khoản 6 Điều 12, điểm a khoản 8 Điều 13 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP).
Do đó, việc áp dụng Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định số 123/2024/NĐ-CP là hoàn toàn thống nhất, đồng bộ, không có sự mâu thuẫn hay chồng chéo pháp luật. Trên đây là ý kiến của Cục Quản lý đất đai kính gửi công dân được biết.

