Tin mới
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khi tín dụng ngân hàng trở thành “nguồn vốn cứu cánh” hạ tầng

Trong bối cảnh tín dụng ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế, câu chuyện “tín dụng cho hạ tầng thời kỳ mới” đang trở thành một phép thử đối với năng lực thiết kế chính sách và sức bền của thị trường vốn Việt Nam.

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với khát vọng tăng trưởng GDP ở mức 2 con số trong thập niên tới. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, hạ tầng giao thông, điện hay đô thị mà đã trở thành nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, phía sau những đại công trình hàng triệu tỷ đồng là một bài toán lớn hơn: Lấy vốn ở đâu và huy động bằng cách nào để vừa tạo được cú hích cho tăng trưởng, vừa không làm gia tăng rủi ro cho hệ thống tài chính.

Trong bối cảnh tín dụng ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế, câu chuyện “tín dụng cho hạ tầng thời kỳ mới” đang trở thành một phép thử đối với năng lực thiết kế chính sách và sức bền của thị trường vốn Việt Nam.

Hạ tầng - động cơ tăng trưởng của nền kinh tế

Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy không có quốc gia nào bứt phá mà không đi cùng một cuộc cách mạng về hạ tầng. Từ hệ thống đường cao tốc liên bang của Mỹ sau Thế chiến II, mạng lưới đường sắt cao tốc của Nhật Bản, đến cuộc bùng nổ đầu tư hạ tầng của Trung Quốc trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, tất cả đều chứng minh một quy luật đầu tư hạ tầng tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ đối với tăng trưởng.

Nhiều nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng tác động của đầu tư hạ tầng ở các nước đang phát triển lớn hơn đáng kể so với các nền kinh tế phát triển, bởi đây là khu vực còn dư địa rất lớn để cải thiện năng suất và giảm chi phí giao dịch.

Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển hạ tầng đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Hệ thống đường bộ cao tốc Bắc - Nam, các tuyến vành đai tại TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, mạng lưới cảng biển, sân bay, trung tâm logistics, hạ tầng năng lượng, chuyển đổi số và đường sắt đô thị đều cần nguồn vốn đầu tư rất lớn.

Riêng chương trình đầu tư 5 tuyến metro của TP. Hà Nội đã có tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 1,3 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 85% tổng chi ngân sách địa phương giai đoạn 2026 - 2030. Con số này cho thấy bài toán hạ tầng hiện nay đã vượt xa khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước.

hinh-anh-moi-nhat-ve-ga-tren-cao-tuyen-metro-so-1-dat-99-tien-do-1-1664390321-916-width2000height1359.jpg

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Khi tín dụng ngân hàng trở thành “nguồn vốn cứu cánh”

Trong nhiều năm qua, tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn cung vốn chủ đạo cho nền kinh tế Việt Nam. Quy mô tín dụng hiện đã tương đương trên 130% GDP, thuộc nhóm cao nhất khu vực. Điều này khiến ngân hàng gần như trở thành “người cho vay cuối cùng” của nhiều dự án hạ tầng.

Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép loại trừ một số khoản vay mới của các dự án hạ tầng trọng điểm khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng được xem là một dạng nới lỏng có mục tiêu, nhằm tạo dư địa cho các dự án lớn tiếp cận vốn.

Ở góc độ tăng trưởng, đây là thông điệp tích cực. Hạ tầng được đẩy nhanh sẽ kích thích đầu tư tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy đô thị hóa, giảm chi phí logistics và nâng cao năng suất nền kinh tế.

Nhưng ở góc độ tài chính, việc sử dụng tín dụng ngân hàng để tài trợ các dự án có vòng đời 20 - 30 năm lại đặt ra nhiều thách thức, cụ thể như: (i) Rủi ro kỳ hạn, hệ thống ngân hàng Việt Nam chủ yếu huy động vốn ngắn hạn nhưng lại phải cho vay trung và dài hạn đối với các dự án hạ tầng; (ii) rủi ro tập trung tín dụng khi nhu cầu vốn của các dự án lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng, tập trung vào một số ít doanh nghiệp và lĩnh vực; (iii) rủi ro đạo đức, nếu cơ chế ưu tiên tín dụng không đi kèm tiêu chí minh bạch và giám sát chặt chẽ, có thể hình thành tâm lý “quá lớn để đổ vỡ”, khiến doanh nghiệp gia tăng đòn bẩy tài chính; cuối cùng là rủi ro vĩ mô, bao gồm áp lực lạm phát, bong bóng tài sản và rủi ro tỷ giá.

Theo GS, TS. Trần Ngọc Thơ, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không quốc gia nào chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng để trở thành nguồn vốn chủ đạo cho phát triển hạ tầng. Trung Quốc là ví dụ điển hình về việc sử dụng tín dụng để thúc đẩy hạ tầng. Giai đoạn 2003 - 2010, đầu tư hạ tầng là một trong những động lực quan trọng giúp nền kinh tế tăng trưởng hai con số. Gói kích thích 4.000 tỷ Nhân dân tệ năm 2008 đã góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng gần 10%. Tuy nhiên, mặt trái cũng dần xuất hiện nợ chính quyền địa phương tăng mạnh, nhiều dự án hạ tầng dư thừa, hiệu quả thấp, thị trường bất động sản phình to và rủi ro tài chính gia tăng.

Còn Nhật Bản sau giai đoạn bùng nổ đầu tư công những năm 1980 cũng phải đối mặt với gánh nặng nợ công kéo dài.

Ngược lại, Hàn Quốc và Singapore lại lựa chọn mô hình đa dạng hóa nguồn vốn cho hạ tầng. Bên cạnh ngân sách, hai quốc gia này phát triển mạnh thị trường trái phiếu dài hạn, quỹ đầu tư hạ tầng, quỹ hưu trí và các mô hình đối tác công – tư (PPP).

Tại Canada và Australia, các quỹ hưu trí trở thành nhà đầu tư dài hạn chủ lực của các dự án sân bay, cảng biển và đường cao tốc. Chính dòng vốn dài hạn này giúp giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Bài học rút ra là tín dụng ngân hàng có thể đóng vai trò khơi nguồn, nhưng không thể là nguồn vốn duy nhất cho hạ tầng.

Thời kỳ mới đòi hỏi “kiến trúc vốn” mới

Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, nền kinh tế sẽ đối mặt với nguy cơ mất cân đối ngày càng lớn. Bài toán đặt ra không chỉ là nới thêm “room” tín dụng, mà phải xây dựng được một hệ sinh thái tài chính cho hạ tầng.

Trước hết, cần phát triển thị trường trái phiếu công trình và trái phiếu dự án. Các dự án hạ tầng có dòng tiền dài hạn hoàn toàn phù hợp với các công cụ nợ dài hạn từ 10 -30 năm.

Thứ hai, cần hình thành các quỹ đầu tư hạ tầng quốc gia, thu hút nguồn vốn từ bảo hiểm, quỹ hưu trí, nhà đầu tư tổ chức trong và ngoài nước.

Thứ ba, đẩy mạnh mô hình PPP theo chuẩn quốc tế, trong đó Nhà nước chia sẻ một phần rủi ro về doanh thu, giải phóng mặt bằng và chuyển đổi ngoại tệ.

Thứ tư, xây dựng cơ chế khai thác giá trị tăng thêm từ đất đai theo mô hình TOD, như TP. Hà Nội đang nghiên cứu đối với các tuyến metro. Đây là phương thức đã được Nhật Bản, Hồng Kông (Trung Quốc) và Singapore áp dụng thành công.

Thứ năm, tăng cường minh bạch thông tin dự án. Nhà đầu tư chỉ sẵn sàng bỏ vốn khi có báo cáo nghiên cứu khả thi, phương án tài chính, mô hình dòng tiền và cơ chế hoàn vốn rõ ràng.

Từ kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tín dụng ngân hàng có thể là chất xúc tác cho phát triển hạ tầng nhưng không nên trở thành chiếc “bình oxy” duy nhất. Việt Nam cần nhanh chóng phát triển thị trường vốn dài hạn, hình thành các quỹ đầu tư hạ tầng và cơ chế huy động vốn theo chuẩn quốc tế. Nếu chỉ dựa vào ngân hàng, áp lực thanh khoản và rủi ro hệ thống sẽ gia tăng trong tương lai. Điều quan trọng nhất là lựa chọn dự án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao, bảo đảm dòng tiền hoàn vốn và công khai minh bạch thông tin. Vốn không thiếu, nhưng dòng vốn chỉ tìm đến những dự án đủ sức thuyết phục.

Khát vọng tăng trưởng hai con số đòi hỏi Việt Nam phải có những công trình hạ tầng mang tính biểu tượng của một nền kinh tế mới. Nhưng phía sau những cây cầu, tuyến metro hay đường cao tốc là một câu hỏi lớn hơn chúng ta sẽ tài trợ cho tương lai bằng nguồn lực nào?

Tín dụng ngân hàng có thể mở cánh cửa đầu tiên, song để đi đường dài, Việt Nam cần một “kiến trúc vốn” hiện đại hơn, đa dạng hơn và bền vững hơn. Bởi trong thời kỳ mới, bài toán của hạ tầng không chỉ là xây được bao nhiêu ki-lo-met đường hay bao nhiêu tuyến metro, mà còn là xây dựng được một hệ thống tài chính đủ sâu, đủ dài và đủ an toàn để nuôi dưỡng những giấc mơ phát triển của quốc gia.

 
Thích

Các tin khác

Video

Tin nổi bật