Ngành Ngân hàng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị

Thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 113/2015/QH13 và các Nghị quyết của Quốc hội về hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ 2, 3, 4, 5, 7, 8 Quốc hội khóa XIV, NHNN Việt Nam đã chủ động nghiên cứu, rà soát, phân công các đơn vị chức năng triển khai quyết liệt, có hiệu quả những nội dung có liên quan đến lĩnh vực ngân hàng. Đến nay, về cơ bản NHNN đã hoàn thành các nhiệm vụ được giao và đạt được mục tiêu Quốc hội, Chính phủ đề ra.

Góp phần ổn định vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, nhận thức được vai trò và trách nhiệm của mình, NHNN đã điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ CSTT, góp phần quan trọng thực hiện thành công mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo giá trị đồng Việt Nam; thanh khoản hệ thống, ổn định thị trường, chia sẻ và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh… tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế bền vững. Công tác phối hợp trong điều hành CSTT và CSTK giữa NHNN và Bộ Tài chính đã được triển khai đồng bộ, chặt chẽ từ cấp lãnh đạo đến các cấp tham mưu; qua đó giúp ổn định giá trị đồng tiền, hỗ trợ kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; đồng thời, góp phần hỗ trợ công tác phát hành trái phiếu Chính phủ, nâng cao hiệu quả quản lý ngân quỹ nhà nước.

Mặc dù dự trữ ngoại hối tăng lên mức kỷ lục, nhưng mức tăng của tổng phương tiện thanh toán (M2) và lạm phát được kiểm soát ở mức phù hợp. Theo đó, lạm phát bình quân các năm 2016- 2019 được duy trì khá ổn định, quanh ngưỡng mục tiêu 4% và thấp hơn nhiều so với mức bình quân 18,58% của năm 2011 và 7,8%/năm của giai đoạn 2011-2015. Lạm phát cơ bản tương đối ổn định ở mức thấp, thể hiện sự ổn định và hiệu quả trong công tác điều hành CSTT; đồng thời, tạo dư địa để Chính phủ điều chỉnh giá các mặt hàng và dịch vụ Nhà nước quản lý. Ước cả năm 2020, lạm phát bình quân dưới 4%, hoàn thành mục tiêu Quốc hội giao.

Ảnh minh họa

Mặc dù trong giai đoạn vừa qua, việc điều hành lãi suất phải đối mặt với nhiều thách thức, song NHNN đã bám sát diễn biến thị trường trong và ngoài nước để điều hành đồng bộ các giải pháp để nỗ lực duy trì ổn định và giảm mặt bằng lãi suất. Từ năm 2016 đến nay, NHNN điều chỉnh giảm 2-2,5%/năm các mức lãi suất điều hành, giảm 0,8-1,5%/năm trần lãi suất tiền gửi các kỳ hạn dưới 6 tháng, giảm 2,5%/năm trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên; đồng thời kết hợp với điều tiết và đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản cho các TCTD, duy trì lãi suất thị trường liên ngân hàng ở mức phù hợp để tạo điều kiện hỗ trợ nguồn vốn với chi phí hợp lý cho các TCTD; chỉ đạo các TCTD cân đối khả năng tài chính để áp dụng mức lãi suất cho vay hợp lý nhằm chia sẻ khó khăn với khách hàng vay.

Cùng với các giải pháp điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT, việc giảm mạnh các mức lãi suất điều hành của NHNN đã góp phần tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ phục hồi kinh tế. Mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm, lãi suất cho vay tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên hiện ở mức 4,5%/năm, giảm khoảng 2,5%/năm so với năm 2016. So với các nước trong khu vực, mức giảm lãi suất điều hành của Việt Nam hiện là một trong các mức giảm mạnh nhất. Tính đến tháng 7/2020, lãi suất cho vay bình quân của ASEAN-6 khoảng 5,7%/năm, ASEAN-4 khoảng 4,82%; Việt Nam 7,2%/năm.

Thực hiện vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn cho nền kinh tế, bám sát các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát bình quân được Quốc hội và Chính phủ đặt ra, ngay từ đầu năm, NHNN đã xây dựng chỉ tiêu định hướng tín dụng cả năm, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Cùng với đó, NHNN cũng chỉ đạo TCTD tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán,...

Bình quân giai đoạn 2016-2019, tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 19,83%, chiếm khoảng 22% tổng dư nợ nền kinh tế; DN nhỏ và vừa tăng 16,69%, chiếm 19%; lĩnh vực xuất khẩu tăng 7%, chiếm 3,2%; công nghiệp hỗ trợ tăng 19,57%, chiếm 2,81%; DN ứng dụng công nghệ cao tăng 2,6%, chiếm 0,42%.

Đặc biệt, những tháng đầu năm 2020, trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, NHNN đã kịp thời chỉ đạo các TCTD triển khai các giải pháp hỗ trợ người dân, DN. Bên cạnh giải pháp về lãi suất, ngành Ngân hàng đã kịp thời triển khai có hiệu quả các giải pháp tín dụng, thanh toán nhằm ứng phó và khắc phục khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19 đối với nền kinh tế.

Tín dụng tăng trưởng phù hợp, được kiểm soát theo mục tiêu nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức cao, cho thấy các giải pháp, chính sách tín dụng của NHNN đã đi đúng hướng, vừa đảm bảo mở rộng tín dụng hiệu quả, an toàn, cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế, vừa phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát.

Một trong những thành công đáng ghi nhận nữa đó là công tác điều hành tỷ giá. Theo đó, trong những năm qua, bất chấp thị trường tài chính thế giới biến động bất thường với biên độ lớn, song công tác điều hành tỷ giá chủ động và linh hoạt đã góp phần ổn định tỷ giá và thị trường ngoại tệ, nâng cao vị thế đồng Việt Nam, giảm tâm lý đầu cơ găm giữ ngoại tệ, giảm dần tình trạng đôla hóa,  chuyển hóa nguồn ngoại tệ thành nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế. Đồng Việt Nam ổn định hơn nhiều so với đồng tiền của nhiều đối tác thương mại.

Thách thức lớn còn ở phía trước

Hiện đại dịch Covid-19 đã đẩy kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái; trong khi căng thẳng thương mại leo thang, thị trường tài chính biến động mạnh… Tất cả những điều đó có thể tác động mạnh đến kinh tế trong nước trên nhiều phương diện. Trong nước, mặc dù lạm phát bình quân cả năm 2020 có khả năng đạt mục tiêu đề ra (dưới 4%), nhưng lạm phát những tháng cuối năm 2020 còn chịu nhiều áp lực. Không chủ quan với những thành tựu đã đạt được, toàn ngành Ngân hàng xác định tiếp tục nỗ lực cùng các bộ, ngành thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Quốc hội, Chính phủ đề ra.

Theo đó, trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục điều hành chủ động, linh hoạt các công cụ CSTT, thực hiện các biện pháp để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng nhưng không chủ quan với lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. Trong đó, tiếp tục theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính tiền tệ trong nước và thế giới để điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với CSTK và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng nhưng không chủ quan với lạm phát. Điều hành lãi suất, tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường trong và ngoài nước, các cân đối vĩ mô, lạm phát, tiền tệ và mục tiêu CSTT. Củng cố dự trữ ngoại hối Nhà nước khi điều kiện thị trường thuận lợi.

Bên cạnh đó NHNN sẽ tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách, quy định pháp luật về hoạt động tín dụng nhằm tạo khuôn khổ pháp lý phù hợp, đồng bộ cho mục tiêu điều hành CSTT linh hoạt và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả, tạo thuận lợi cho người dân, DN tiếp cận tín dụng, góp phần hỗ trợ nền kinh tế. NHNN chỉ đạo các TCTD tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, cho vay bằng ngoại tệ. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; Tăng cường phối hợp với các tỉnh, thành phố triển khai Chương trình kết nối ngân hàng-DN; Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục vay vốn...

Tuy nhiên, trong bối cảnh thách thức từ môi trường quốc tế ngày càng gia tăng, dư địa thực thi chính sách tiền tệ không còn nhiều, NHNN kiến nghị các bộ, ngành, địa phương: Tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong việc xây dựng, điều hành mức độ và thời gian điều chỉnh giá các mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quản lý phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát. Đồng thời, tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho DN phát triển sản xuất kinh doanh, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm, qua đó thực hiện thành công mục tiêu phục hồi tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Đặc biệt, cần đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư. “Thời gian tới cần đẩy mạnh phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương, khẩn trương, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm quyết liệt tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, ổn định vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội…”, NHNN khuyến nghị.

Thời gian qua hệ thống TCTD tiếp tục thực hiện tái cơ cấu, xử lý nợ xấu. Quy mô hệ thống các TCTD tiếp tục tăng: Đến cuối tháng 8/2020, tổng tài sản đạt 12,93 triệu tỷ đồng, tăng 52,1% so với cuối năm 2016. Năng lực tài chính của các TCTD được củng cố, vốn điều lệ tăng dần qua các năm; chất lượng quản trị, điều hành của các TCTD từng bước được nâng cao để tiệm cận với thông lệ quốc tế: Đến cuối tháng 8/2020, vốn điều lệ của toàn hệ thống đạt 629,1 nghìn tỷ đồng, tăng 28,8% so với cuối năm 2016; vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống đạt 1.007,7 nghìn tỷ đồng, tăng 69,4% so với cuối năm 2016.

Đến nay, hầu hết các TCTD đã áp dụng tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN, 18 TCTD đã được NHNN chấp thuận áp dụng trước thời hạn tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN; hoàn thành chỉ tiêu 12-15 TCTD đạt chuẩn Basel II về an toàn vốn vào năm 2020… Có thể nói, những nỗ lực của ngành Ngân hàng trong quá trình thực hiện cơ cấu lại đã góp phần quan trọng bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, tạo nền tảng kinh tế vĩ mô bền vững, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, thể hiện ở việc các tổ chức xếp hạng tín nhiệm liên tục điều chỉnh tăng triển vọng xếp hạng trong các năm gần đây .

Nhóm PV chuyên đề

Tin liên quan
Thời tiết